
Trong khi hệ thống đê sông, đê biển còn nhiều khuyết tật, xung yếu thì tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra rất nghiêm trọng trên phạm vi cả nước. Tổng chiều dài sạt lở khoảng 1.257 km, trong đó riêng Bắc Bộ có tới 165 vị trí sạt lở có chiều dài 252 km.
Trong mọi công việc, nếu người thực thi nhiệm vụ luôn ở thế chủ động, chắc chắn hiệu quả công việc sẽ đạt yêu cầu một cách tốt nhất. Ðiều này càng có ý nghĩa trong công tác phòng, chống lũ, bão, bởi thiên tai xảy ra bất thường.
Trước mỗi mùa mưa bão, các địa phương đều phải thực hiện một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là tu bổ đê điều và đánh giá đúng hiện trạng của đê, kè, cống để xây dựng phương án phòng, chống lũ, bão phù hợp với tình hình thực tế ở từng khu vực.
Theo số liệu thống kê của Cục quản lý Ðê điều và phòng chống lụt bão (PCLB), hệ thống đê của các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra có tổng chiều dài 5.167 km, trong đó có 2.406 km đê từ cấp 3 đến cấp đặc biệt, 2.761 km đê biển và đê dưới cấp 3.
Sau đợt lũ lớn xảy ra vỡ đê năm 1971 đến nay, hệ thống đê sông, đê biển ở các tỉnh thuộc Bắc Bộ, Trung Bộ đã được củng cố, đầu tư nâng cấp một cách đáng kể. Tuy nhiên, do đê điều được đắp qua nhiều thời kỳ, lại là công trình bằng đất, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, mức đầu tư tu bổ, nâng cấp hằng năm chưa đáp ứng được yêu cầu của phòng, chống lụt bão đang có xu hướng ngày càng khắc nghiệt, cực đoan do biến đổi khí hậu toàn cầu, cho nên khả năng chống đỡ với thiên tai mới ở mức độ nhất định.
Các tỉnh thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có bốn hệ thống đê chính: hệ thống đê sông Hồng, hệ thống đê sông Thái Bình, hệ thống đê sông Mã, sông Cả và hệ thống đê biển. Trên các hệ thống đê điều có gần 600 kè và gần 1.600 cống dưới đê.
Ðến nay, các tuyến đê sông chính căn bản đủ sức chống được mức lũ thiết kế (trên sông Hồng tại Hà Nội là 13,1 m, sông Thái Bình tại Phả Lại là 7,0 m), nhưng chiều cao gia thăng của một số đoạn đê còn thấp 0,3 - 0,7 m; trong đó có 200 km đê thuộc hệ thống sông Hồng, 138 km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình, tập trung chủ yếu ở vùng cửa sông và một số đoạn đê sông Lạch Tray, sông Cấm. Ngoài ra, còn khoảng 180 km đê thuộc hệ thống sông Thái Bình, 164 km đê sông Mã, sông Cả chiều rộng mặt đê còn nhỏ so với thiết kế, rất khó khăn cho việc đi lại kiểm tra và cứu hộ khi cần thiết. Hệ thống đê sông ở Bắc Bộ được hình thành và tôn cao áp trúc dần qua hàng nghìn năm nay, cho nên thân đê, nền đê còn nhiều chỗ yếu, dễ gây sạt trượt, thẩm lậu mỗi khi có lũ lớn là những mối lo ngại thường trực mỗi khi gặp lũ to, bão lớn.
Hệ thống đê biển thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ đã được đầu tư nâng cấp thông qua các dự án PAM 4317, PAM 5325, OXFAM, nhưng mới đủ sức chống đỡ với gió bão cấp 9 khi triều ở mức trung bình. Vì thế, các cơn bão số 2, số 7 năm 2005 đổ bộ vào các tỉnh ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã làm vỡ và sạt lở nghiêm trọng các tuyến đê biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, nặng nhất là các tỉnh Nam Ðịnh, Thanh Hóa và TP Hải Phòng.
Sau thiệt hại này, Chính phủ đã phê duyệt chương trình đầu tư, củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam, nhằm tăng cường sức chống đỡ với sóng lớn do bão gây ra. Tuy nhiên, đến nay các địa phương mới khôi phục và nâng cấp được ở những đoạn đê xung yếu nhất, với tổng chiều dài 73,1 km.
Trong khi hệ thống đê sông, đê biển còn nhiều khuyết tật, xung yếu thì tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng trên phạm vi cả nước. Tổng chiều dài sạt lở khoảng 1.257 km, trong đó riêng Bắc Bộ có tới 165 vị trí sạt lở có chiều dài 252 km. Tình trạng sạt lở trong thời gian qua đang đe dọa trực tiếp đến an toàn đê điều, khu vực thành phố, thị xã, khu tập trung dân cư như sạt lở bờ sông Thao ở khu vực Thụy Vân, Tân Ðức, Minh Nông, Tiên Cát (Phú Thọ); sông Ðà ở khu vực hạ lưu đập Hòa Bình; sông Hồng ở khu vực Triều Dương, Phú Cường, Phú Châu, Phương Ðộ, Cẩm Ðình, Xuân Phú, Phong Vân (Hà Tây), Yên Ninh, Chương Xá, Vũ Ðiện, Như Trác (Hà Nam), Trung Hà, Thanh Ðiềm, Văn Khế (Vĩnh Phúc), khu vực Phú Hùng Cường, Lam Sơn (Hưng Yên), Mật Lăng, Bái Trạch (Nam Ðịnh), Thanh Nga, Hồng Tiến (Thái Bình)... Trong tổng số gần 1.600 cống dưới đê, hiện có nhiều cống đã xuống cấp nghiêm trọng, trong đó khoảng 200 cống cần phải xây lại, 100 cống sửa chữa lớn nhưng đến nay chưa đủ kinh phí đầu tư, cho nên các cống này cũng luôn được xác định là hiểm họa khó lường.
Với thực trạng hệ thống đê như hiện nay, vấn đề đặt ra là: Nếu lũ vượt mức thiết kế thì phải hộ đê quyết liệt mới có thể bảo đảm được an toàn cho hệ thống đê. Ngoài ra, các nguy cơ vỡ đê vẫn có thể xảy ra từ các hiểm họa như: mạch sủi qua nền đê gây sập và vỡ đê, thấm qua thân đê gây sạt trượt mái đê, sạt lở đê do sóng ở những đoạn chưa có tre chắn sóng, hư hỏng cống và các công trình qua đê khác, lũ cao tràn qua đỉnh đê. Những sự cố gây vỡ đê khó dự báo được trước, mà thường xảy ra bất ngờ. Những điểm vỡ đê trước đây nhiều khi không phải ở các vị trí được xác định là xung yếu nhất, vì những chỗ xung yếu đã được tuần tra canh gác cẩn thận, xử lý kịp thời những hiện tượng hư hỏng ngay từ lúc mới phát sinh. Vì thế, công tác hộ đê phải quán triệt phương châm "chú ý trọng điểm nhưng phải coi trọng toàn tuyến". Yêu cầu này cần phải được thực hiện tốt và quán triệt đối với lực lượng tuần tra canh gác đê.
Chủ động phòng, chống lũ, bão là nhiệm vụ hằng năm của các cấp, các ngành, các địa phương. Tuy nhiên công tác này không phải lúc nào cũng làm tốt ở mọi nơi, mọi lúc, ở các cấp, các ngành.
Thực tế trong phòng, chống thiên tai những năm qua cho thấy, cho đến thời điểm này thì ngành nào, địa phương nào cũng báo cáo đầy đủ các công việc đã triển khai như thành lập xong Ban Chỉ huy PCLB các cấp, phân công trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; tổ chức và tập huấn kỹ thuật cho các lực lượng tuần tra canh gác, xung kích hộ đê, cắm cừ, đào mò; đã xác định các trọng điểm xung yếu và xây dựng xong các phương án hộ đê; chuẩn bị đủ vật tư dự phòng, phương tiện vận tải, phương tiện thông tin liên lạc... theo phương châm "bốn tại chỗ". Nhưng trong thực tế, khi xảy ra sự cố mới thấy hết những yếu kém, sự lúng túng trong việc đối phó với thiên tai ở tất cả các khâu, từ chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.
Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận cán bộ có trách nhiệm thực thi những nhiệm vụ này theo kiểu đối phó, chiếu lệ, quan liêu. Khi sự cố đê điều xảy ra, huy động lực lượng xung kích hộ đê thì mới thấy không đủ cơ số biên chế ban đầu. Hỏi ra mới biết số người vắng mặt đang đi làm ở nơi xa. Có nơi thì báo cáo vật tư dự phòng trong dân đã chuẩn bị đầy đủ. Nhưng khi hữu sự, thiếu thốn đủ mọi thứ, làm cho việc xử lý, ứng cứu rất khó khăn, tốn kém. Có nơi khi cần xuống cứu hộ, cứu nạn thì máy không nổ được, có nơi lại không có người lái...
Những hiện tượng này thực tế đều đã xảy ra ở nhiều địa phương trong khi phải đối phó với lũ, bão một cách khẩn cấp. Ðể giảm nhẹ được thiên tai, đối phó với lũ, bão đạt hiệu quả cần phải thực hiện đồng bộ rất nhiều việc theo chức năng của các ngành, các cấp. Ở bất cứ khâu nào, công việc nào làm không tốt đều có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Trước hết cần làm tốt hơn nữa khâu cảnh báo, dự báo bão, lũ, cảnh báo khả năng mưa lớn gây lũ quét, sạt lở núi. Ban Chỉ huy PCLB các cấp, các ngành cần thường xuyên kiểm tra quân số ở các lực lượng tham gia hộ đê, số lượng vật tư, phương tiện, kịp thời bổ sung cho đủ cơ số, số lượng theo yêu cầu phù hợp với tình hình cụ thể. Ngay từ bây giờ, Ban Chỉ huy PCLB các cấp, các ngành cần rà soát, kiểm tra chặt chẽ mọi công việc chuẩn bị cho PCLB, kịp thời uốn nắn, bổ sung những khiếm khuyết, đánh giá đúng thực lực của mình để chủ động hơn trong việc đối phó với thiên tai. Ðó là yêu cầu và cũng là mục tiêu nhằm giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.




