Trong bài viết này, chúng tôi không nói đến việc “người thừa vẫn thừa, người thiếu vẫn thiếu” ở nhiều cơ quan, đơn vị. Chúng tôi chỉ muốn đề cập đến nguyên nhân của vấn đề: Tỉnh giao chỉ tiêu biên chế, nhưng nơi được giao lại không sử dụng hết, trong khi vẫn kêu thiếu và rất thiếu.
Kỳ I: KÊU THIẾU NHƯNG LẠI ĐỂ THỪA
· Còn 2571 chỉ tiêu chưa được sử dụng
Nói đến chỉ tiêu biên chế (BC), có thể khẳng định rằng đơn vị, địa phương nào cũng kêu thiếu. Mà thiếu thật. Năm 2005, T.P Thái Nguyên được giao 77 BC hành chính. Năm 2006, Thành phố thành lập thêm 3 đơn vị mới, ấy thế mà năm 2007 được giao thêm có 2 chỉ tiêu. Trong khi về lý thuyết, mỗi đơn vị thành lập mới ít nhất phải có từ 3 đến 5 người. Thiếu, nên phải hợp đồng mới đủ người làm. Riêng lĩnh vực Giáo dục -Đào tạo, TP Thái Nguyên phải hợp đồng đến 267 người, huyện Võ Nhai cũng hợp đồng 32 kế toán cho các trường tiểu học và trung học cơ sở. Hầu như đơn vị nào, cơ quan nào cũng cần lấy hợp đồng mới đủ người làm.
Ấy vậy mà năm 2007, biên chế (BC) được sử dụng trên toàn tỉnh vẫn còn để trống đến 2.571 suất so với BC đã giao. Số liệu của Sở Nội vụ cho biết: Năm 2007 cả tỉnh được giao 21.223 BC, trong đó 1926 BC hành chính, 18.542 BC sự nghiệp. 208 BC theo Hợp đồng 68 (lái xe, tạp vụ, bảo vệ tại các cơ quan hành chính sự nghiệp), 552 BC theo Kết luận 17/KL-TU. Nhưng tính đến 30-10-2007, toàn tỉnh còn để trống 2571 chỉ tiêu so với số được giao.
Để trống nhiều nhất là huỵện Định Hoá, được giao 1629 chỉ tiêu (CT), nhưng đến nay mới sử dụng 1064 CT (còn 565 CT), Phú Lương cũng còn 172 CT, TP Thái Nguyên còn gần 300... Trong đó, hụt nhiều nhất là số lượng của Giáo dục- Đào tạo: Đồng Hỷ còn trống 172 chỗ; Đại Từ: 314; Đồng Hỷ:113.... Sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo toàn tỉnh còn 2089 CT chưa sử dụng.
Các nguyên nhân đưa ra “chụm” ở 2 ý là: Thí sinh thi công chức trượt nhiều so với yêu cầu; việc xét tuyển viên chức theo Nghị định 121 của Chính phủ hầu như không thực hiện được.
Thử phân tích nguyên nhân
1. Trước hết, chúng tôi đề cập đến việc thi công chức.
Đã thành thông lệ, mỗi năm Sở Nội vụ tổ chức 1 kỳ thi tuyển công chức theo kế hoạch của các cơ quan, đơn vị có yêu cầu. Riêng kỳ thi tổ chức giữa năm 2007 là gộp của cả năm 2006 và 2007 do một số nguyên nhân khách quan.
Có 428 thí sinh dự thi vào 146 vị trí của 30 cơ quan gồm 9 huyện (thành, thị) và 21 sở (ban, ngành) của tỉnh. Tỷ lệ “chọi” ở các vị trí không đồng đều, vị trí chuyên viên phòng Nội vụ của UBND TP chỉ có 1 nhưng 21 người thi, vị trí chuyên viên trồng trọt (phòng Trồng trọt) của Sở Nông nghiệp và PTNT có 14 người cùng “chọi”, 2 vị trí kiểm lâm viên trung cấp (Chi cục Kiểm lâm) có đến 26 thí sinh nộp hồ sơ. Trong khi đó, nhiều vị trí khác như kỹ sư khai thác (Sở Công nghiệp), chuyên viên thể dục thể thao (Sở TDTT) chỉ “chiến đấu” với tỷ lệ 1-1. Tuy nhiên, người lọt vào vị trí phải có số điểm đạt trên 50% ở mỗi môn thi và xét từ cao xuống thấp. 3 môn thi gồm: Quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN), ngoại ngữ, tin học.
Về đề thi, ông Trần Dương Thịnh, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Chủ tịch Hội đồng thi tuyển công chức năm 2007 cho biết: Đề thi QLHCNN tập trung vào các văn bản quản lý cán bộ công chức, quản lý hành chính; bộ đề tiếng Anh do giáo viên Sở Giáo dục-Đào tạo xây dựng (đề tiếng Trung mua của Trường Đại học sư phạm TN). Đề tin học do các chuyên viên của Sở Nội vụ soạn thảo. Quy trình ra đề, giám sát in sao, bảo vệ đề thi, coi thi, chấm thi thực hiện đúng quy định, đảm bảo khách quan, bí mật.
Kết quả, 125 thí sinh trúng tuyển vào 125 vị trí của 29 huyện, cơ quan. Trong đó 120 thí sinh trúng vào ngạch chuyên viên và tương đương; 5 thí sinh trúng tuyển ngạch cán sự và tương đương. Có một số vị trí cần 2 nhưng chỉ tuyển được 1 như của Chi cục Kiểm lâm hoặc cần 11 chỉ tuyển được 5 như của Sở Công nghiệp.
Trao đổi với ông Trần Dương Thịnh về nhiều trường hợp đã từng làm hợp đồng, thạo việc ở một số cơ quan, đơn vị nhưng thi lại không đỗ, ngược lại có nhiều sinh viên mới ra trường lại đỗ, ông Thịnh xác nhận: Đối với môn ngoại ngữ và tin học, ưu thế thường thuộc về sinh viên mới ra trường. Đề thi chỉ là chiếc “khuôn” chung nhất cho các đối tượng, ít thể hiện được cái riêng của từng chuyên ngành và thế mạnh của từng người đối với chuyên môn của họ. Ông Thịnh cũng bày tỏ quan điểm: Muốn chọn được người thực sự đáp ứng yêu cầu thì tốt nhất đơn vị cần người tổ chức thi. Ngoài các môn bắt buộc, có thể thi vấn đáp tìm hiểu thêm kiến thức văn hoá, lịch sử và hiểu biết xã hội của thí sinh. Tuy nhiên, đến nay cách làm này vẫn chưa thực hiện được do nhiều nguyên nhân.
Như vậy, tuy còn một số bất cập trong thi công chức, nhưng 21 người thiếu hụt so với yêu cầu là không đáng kể.
2- Thứ hai, việc thực hiện xét tuyển viên chức theo Nghị định 121 của Chính phủ
Trước đây, việc xét tuyển viên chức theo Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ. Từ 10-10-2006, Chính phủ có Nghị định số 121/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 116. Ban hành kèm Nghị định 121 là Thông tư số 04/2007/TT-BNV ngày 21-6-2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 121, trong đó mục b của Thông tư nêu: Người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển là người đạt yêu cầu, tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự tuyển và có kết quả học tập trung bình toàn khoá (được quy đổi theo thang điểm 100), cộng với điểm ưu tiên theo quy định tại khoản 3, điều 12, Nghị định 116 tính từ người có kết quả cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển dụng. Về điểm ưu tiên, điều 7 của Nghị định 116 quy định:
Đối tượng được cộng 30 điểm gồm:
Người dân tộc thiểu số, người tình nguyện phục vụ ở vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo; anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa; con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; con anh hùng lực lượng vũ trang, con anh hùng lao động.
Đối tượng được cộng 20 điểm gồm:
Những người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng.
Đối tượng được cộng 10 điểm gồm:
Những người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ 2 năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.
Người có nhiều điểm được ưu tiên thì chỉ được cộng 1 loại ưu tiên có điểm cao nhất.
Nghị định trên đây được Sở Nội vụ triển khai từ tháng 8-2007 đến tất cả các cơ quan đơn vị của tỉnh, đến hết tháng 10-2007 mới có 10 đơn vị thành lập hội đồng xét tuyển. Trong số này, Sở Nông nghiệp và PTNT cần tuyển 28 người, Đài Phát thanh-Truyền hình: 23 người, Chi cục Kiểm lâm: 14 người, Sở Văn hoá-Thông tin: 14 người...
Thế nhưng, cả những đơn vị đã xét tuyển và những nơi chưa xét tuyển đều có ý kiến về những bất hợp lý khi thực hiện Nghị định. Ông Hoàng Đức Mạnh, Phó Chủ tịch UBND huyện Võ Nhai nhận xét: Người làm việc tốt lại có điểm lại thấp hơn người làm việc kém nhưng được ưu tiên. Hiện Võ Nhai có 32 kế toán hợp đồng tại các trường tiểu học và trung học cơ sở, nếu đưa vào xét tuyển thì số kế toán này có khả năng sẽ bị loại.
Tương tự, ngành Giáo dục-Đào tạo của TP Thái Nguyên còn 267 người ở diện hợp đồng, nếu xét tuyển theo Nghị định 121 thì số này cũng chưa chắc được vào. Có người đưa ra phép tính: Một người có kết quả học trung bình toàn khoá là 8,0 (tương đương 80 điểm), sẽ thua 1 người chỉ có kết quả học trung bình 5,1, nếu người đó là dân tộc ít người vì người này sẽ có: 51 điểm + 30 điểm (ưu tiên)=81 điểm. Vì vậy, việc xét tuyển theo 121 sẽ không thu hút được những người có năng lực về chuyên môn vào đội ngũ cán bộ công chức. Đưa ra lý do như vậy nên đến nay rất ít địa phương, đơn vị tiến hành xét tuyển. Dẫn đến tình trạng chỉ tiêu vẫn còn “treo” nhiều như trên đã nói.
(Còn nữa)
Kỳ II: Còn nhiều nguyên nhân khác




