Ô nhiễm môi trường làng nghề miền Bắc

08:52, 01/11/2007

Theo thống kê cả nước hiện có khoảng 1.500 làng nghề, (riêng đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề). Bên cạnh mặt tích cực là giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động thì hoạt động sản xuất tại các làng nghề đã tác động xấu tới môi trường sống, cảnh quan nông thôn, và tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề hiện ngày càng trầm trọng.

Ô nhiễm nặng

Theo kết quả khảo sát của Trung tâm tài nguyên nước và môi trường, Bộ NN&PTNT, hiện trạng môi trường tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề công nghiệp và làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm đều đáng lo ngại. Tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ, ô nhiễm không khí do bụi hơi độc, dung môi hữu cơ đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Tại làng chạm bạc như Đồng Xâm- Thái Bình còn sử dụng axit để rửa bề mặt kim loại nên trong nước thải có các thành phần độc hại cao, lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5-2 lần. Tại làng đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ- Bắc Ninh, hàm lượng bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt tại các khâu pha chế gỗ hàm lượng bụi vượt 1,5 lần, các khâu khác là 1,3 lần. Ô nhiễm tiếng ồn tại các khâu pha gỗ hoạt động của máy vượt quá tiêu chuẩn cho phép 1,1-1,2 lần.

Hầu hết các chất thải của các làng nghề không qua xử lý mà thải trực tiếp ra các mương rãnh ao hồ xung quanh, mùi hôi thối nồng nặc, không khí của các lò đốt bằng than từ các làng nghề với các khí thải độc, chất thải rắn, rác thải sinh hoạt đổ bừa bãi ra các ao hồ, mương rãnh gần khu sản xuất đã làm cho môi trường khu vực ô nhiễm trầm trọng. Tại làng chế biến tinh bột sắn Cát Quế, Dương Liễu-Hà Tây, nước thải chế biến bột sắn, phân lợn, rác thải lấp đầy cống rãnh. Cứ mỗi trận mưa to là cả làng ngập nước phân rác. Làng tái chế giấy Phong Khê-Bắc Ninh, xung quanh hàng chục tấn chất thải như giấy, túi nilon, xỉ than không được xử lý vứt bừa bãi ra các khu ruộng làm lúa chết, nước thải đặc sệt cặn lơ lửng đổ ra sông Ngũ Huyện Khê từ 300-350m3 nước thải mỗi ngày. Làng nấu rượu, nuôi lợn Phú Lâm (Bắc Ninh) phân lợn tràn lan ra khắp khu đồng phía sau làng làm cho lúa chết, mùi hôi thối rất khó chịu. Làng tái chế chì (Chỉ Đạo – Hưng Yên), nấu nhôm, chì (thôn Mãn Xá, Văn Môn – Bắc Ninh) không khí xung quanh nhiễm độc nặng nhất là chì, bụi, khí và cacbonnic. Nồng độ chì trong không khí xung quanh vượt tiêu chuẩn cho phép từ 45-87 lần. Tại xã Chỉ Đạo – Hưng Yên, các mẫu phân tích cho thấy nồng độ chì trong rau muống tại những nơi rửa phế liệu chì cũng rất cao, vượt chuẩn 168-400mg Pb/kg.

Thu nhập tỷ lệ nghịch với sức khỏe!

Chất thải tại các làng nghề đã tác động trực tiếp tới sức khoẻ lao động. Qua điều tra tỷ lệ mắc bệnh của người làng nghề cao hơn hẳn vùng thuần nông. Theo thống kê của các trạm y tế thì ở từng làng nghề khác nhau tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp cũng khác nhau. Các nghề cơ khí, đúc, tái chế nguồn vật liệu hay mắc bệnh phổi, phế quản. Các nghề tẩy nhuộm, mạ kim loại, tái chế chì hay các bệnh ung thư cao, tuổi thọ giảm. Các ngành nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế biến lương thực, thực phẩm tỷ lệ mắc bệnh ngoài da, tiêu hoá, đau mắt, phụ khoa cao.

Qua điều tra cho thấy tại Dương Liễu, Cát Quế, Hà Tây, tỷ lệ dân đau mắt hột chiếm tới 70%. Tại Bát Tràng, Hà Nội khám sức khoẻ 223 người thì có 76 người mắc bệnh đường hô hấp, 23 người mắc bệnh lao . Tại làng chế chì ở Đông Mai – Hưng Yên tỷ lệ người dân mắc bệnh thần kinh chiếm 71%, bệnh đường hô hấp chiếm 65,6%, bệnh dị tật ở trẻ em 84 em v.v… Những con số trên đã khẳng định những bất cập trong môi trường làng nghề gây ra là khá nặng nề.

Tiến sỹ Nguyễn Quang Trung, làm việc tại Trung tâm tài nguyên nước và môi trường cho biết Trung tâm đã nghiên cứu biện pháp tổng hợp công nghệ xử lý nước thải cho làng nghề thuộc da Liêu Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên và làng nghề chế biến nông lâm sản Cát Quế, Hà Tây. Kết quả nghiên cứu cũng đã đưa ra được các công nghệ phù hợp để xử lý ô nhiễm làng nghề sản xuất lương thực thực phẩm và thuộc da; và đã xây dựng được mô hình xử lý chất thải cho làng nghề chế biến tinh bột sắn Cát Quế-Hà Tây. Mô hình đã khép kín từ quy hoạch môi trường tổng thể cho thôn 5; áp dụng công nghệ xử lý tại chỗ, hệ thống cống rãnh thu gom nước thải và kết hợp xử lý bằng hồ sinh học trước khi thải ra nguồn nhận thải là sông Đáy.

Đề tài cũng đã xây dựng được hệ thống tổ chức quản lý môi trường cho địa phương từ xã đến thôn và các hộ gia đình, mở các lớp tập huấn về vệ sinh môi trường nông thôn, biên soạn tờ rơi phổ biến đến từng hộ gia đình để nâng cao nhận thức về vệ sinh môi trường của người dân. Từ nâng cao nhận thức, người dân đã có những thay đổi hành vi như tự nguyện đóng góp tiền và công lao động vào xây dựng các hệ thống xử lý chất thải; đóng góp lệ phí vệ sinh môi trường, tham gia các công tác như thu dọn vệ sinh hàng tuần, hội họp đóng góp ý kiến vào công tác vệ sinh thôn xóm làm cho môi trường sống trong khu vực được cải thiện một cách đáng kể. Theo ông Trung để phát huy tốt và nhân rộng các kết quả đã đạt được, đề tài nghiên cứu cần tiếp tục được đầu tư dưới dạng dự án chuyển giao công nghệ.