
Cùng đoàn cán bộ, thầy thuốc của Trung đoàn Vận tải S51 (Cục Hậu cần, Quân khu 1) đến khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho đồng bào các dân tộc bản Mỏ Ba, thuộc xã Tân Long (Ðồng Hỷ). Giữa chốn "thâm sơn cùng cốc", chúng tôi được chứng kiến nghĩa tình quân dân sâu nặng và những chuyện lạ về vùng đất này...
Càng về trưa, các bàn khám, chữa bệnh càng đông người. Thiếu tá, bác sĩ Nguyễn Sĩ Ðạo, Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn cùng các y sĩ, y tá, dược tá của đơn vị và địa phương phục vụ đồng bào như chính phục vụ người thân của mình.
Ông Lý Văn Diến, 60 tuổi (dân tộc Mông) cùng vợ và các con đang chờ đến lượt khám, chữa bệnh, phấn khởi tâm sự: "Mình có 17 đứa con, nhà nghèo, bệnh viện thì ở xa, mỗi lúc con ốm đau phải đi bệnh viện thì lo lắm. Hôm nay, nghe tin thầy thuốc bộ đội về bản khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí, mình bảo vợ cùng các con dậy sớm đi bộ 7 cây số đường rừng đến đây. Mình vui cái bụng lắm"...
Ông Ðào Văn Tư, 52 tuổi (dân tộc Mông), hiện là Phó bản Mỏ Ba, có 13 người con (con cả của ông năm nay 36 tuổi và con út 12 tuổi). Khi nghe bộ đội tuyên truyền các biện pháp tránh thai, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, thì bộc bạch: "Giá như ngày trước tôi được nghe những điều này thì chắc không đẻ nhiều con như thế. Bây giờ mình sẽ khuyên bảo con cháu và các cặp vợ chồng trong bản sinh đẻ phải có kế hoạch, đẻ nhiều là đói, là khổ...".
Trong phòng khám, chữa bệnh, chúng tôi gặp không ít những cặp vợ chồng trẻ trong bản, sau khi được nghe thầy thuốc hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe cho con nhỏ, cách sử dụng bao cao-su, đặt vòng để tránh thai, sinh đẻ có kế hoạch, đều có chung ý nghĩ: "nghe theo bộ đội, sẽ không đẻ nhiều con như những người trong bản đâu, không muốn cõng con đi nương nhiều mà...".
Ðể làm vơi đi những khó khăn của bà con tại bản, Trung đoàn thăm, tặng cho các gia đình đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn ở địa phương 100 kg gạo và 304 bộ quần áo; tặng học sinh Phân trường tiểu học 400 quyển vở và 200 bút bi. Ðội văn nghệ xung kích của đơn vị phối hợp Ðoàn Trường tiểu học xã Tân Long tổ chức đêm giao lưu văn hóa, văn nghệ "cây nhà, lá vườn". Tiếng đàn, tiếng hát cùng tiếng khèn, điệu múa của quân - dân hòa quyện, vang vọng cả một vùng "sơn cước"...
Ông Phạm Tuấn Tú, Trưởng bản Mỏ Ba, cho biết: Trong những năm qua, được sự quan tâm của Ðảng, Nhà nước, nhất là năm 2002 trở lại đây, thực hiện Chương trình 134, 135 của Chính phủ và dự án Plen (của tổ chức phi chính phủ thế giới), sự giúp đỡ của các cấp, các ngành ở địa phương, bản đã xây dựng được Nhà văn hóa và Phân trường tiểu học khang trang; nhiều gia đình nghèo được hỗ trợ tiền để sửa chữa và làm mới nhà ở; được hỗ trợ vốn để mở rộng diện tích trồng cây quế, cây keo, phát triển sản xuất... nhờ vậy đời sống của bà con các dân tộc trong bản từng bước được cải thiện; nhiều nhà đã có "bát ăn, bát để".
Tuy nhiên, số hộ nghèo trong bản vẫn chiếm tỷ lệ cao (74,8%). Tìm hiểu, chúng tôi được biết, bản chỉ có 123 hộ nhưng có tới gần 700 nhân khẩu. Trong đó người Mông chiếm gần 60%, còn lại là người Kinh, Dao, Nùng, Sán Chỉ, Cao Lan. Cả bản chỉ có 21,37 ha ruộng cấy lúa nước một vụ (bình quân mỗi hộ chỉ có hai sào cấy lúa), còn lại là làm bãi, làm nương, hơn nữa bản ở trên núi cao, việc trồng ngô, cấy lúa chủ yếu phụ thuộc vào nước mưa, cho nên cuộc sống của người dân nơi đây còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Ở bản Mỏ Ba, phần lớn các gia đình có từ năm người con trở lên, cá biệt ông Ngô Văn Sùng (dân tộc Mông) có tới 18 người con. Hiện tại, bản có hơn mười hộ gia đình đặc biệt khó khăn, tài sản trong nhà không có gì đáng giá 100 nghìn đồng, quanh năm phải ăn mèn mén (loại ngô được xay nhỏ, vẩy nước rồi cho vào đồ từ hai đến ba lần mới bỏ ra ăn), vậy mà mỗi năm các gia đình này thường thiếu ăn 7 - 8 tháng, mưu sinh chủ yếu bằng việc vào rừng mót bìa gỗ, nhặt quặng bán.
Chúng tôi đến thăm vợ chồng anh Vương Văn Khìn và chị Trương Thị Lý (dân tộc Mông). Tuy mới 42 tuổi mà anh, chị gầy gò, khuôn mặt sạm đen, khắc khổ trông như đã quá tuổi "ngũ tuần"; anh chị có tám người con trong đó ba người con đầu đã "dựng vợ, gả chồng", anh chị đã có tới năm cháu nội, ngoại. Khi chúng tôi hỏi tên các con của anh, phải ngắc ngứ, vất vả lắm anh mới nhớ ra thứ tự, tên của các con mình, còn năm sinh, tháng đẻ của các con thì anh không nhớ nổi.
Buổi tối, bên ngọn đèn dầu, anh tâm sự: Năm ngoái, theo Chương trình 134 của Chính phủ, gia đình tôi được hỗ trợ sáu triệu đồng, cộng với số tiền của vợ chồng tiết kiệm được và vay mượn anh em họ hàng được thêm sáu triệu đồng nữa để làm mới căn nhà này; nhà đông con, ruộng, bãi ít nên đời sống khó khăn lắm, nếu mất mùa thì mỗi năm gia đình thiếu ăn 6 - 7 tháng. Các con của anh chị, đứa học cao nhất hiện đang theo học lớp 4, còn lại là bỏ học ở lớp 3 hoặc không đi học, chỉ ở nhà chăn trâu, phụ giúp việc gia đình.
Ðến giờ, anh vẫn còn tiếc giá như ngày xưa anh được đi học và đừng đẻ nhiều như thế. Rồi anh than vãn: Chỉ vì ngày trước, cả mình và vợ nghe theo bố, mẹ bảo, đi học làm gì, đi học cái chữ không ăn được, mà đi làm bãi mới ăn được, nên cả hai vợ chồng đều không đi học. Không biết cái chữ nên đẻ nhiều con mới vất vả, khó khăn; nếu được đi học thì tôi không đẻ nhiều như thế này".
Từ thực tế, để giúp đỡ đồng bào các dân tộc nói chung và đồng bào các dân tộc bản Mỏ Ba nói riêng xóa đói, giảm nghèo, thì các cấp, các ngành ở địa phương không chỉ quan tâm giúp dân làm một ngôi nhà, một đoạn đường, mà điều quan trọng là phải bắt đầu bằng việc giúp dân kiến thức về dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Chúng tôi tạm biệt bà con dân bản khi đêm giao lưu văn nghệ thắm tình quân - dân kết thúc. Sau cái bắt tay thật chặt và lời chào của đồng bào các dân tộc, tôi không thể quên về một bản vùng cao trên đỉnh núi Mỏ Ba, có những con người một nắng hai sương nhưng thật mộc mạc, chân tình.
Và, tôi như bị ám ảnh bởi những trăn trở, những ước muốn của Trưởng bản Phạm Tuấn Tú cùng bà con dân bản là: mong Ðảng, Nhà nước và địa phương quan tâm tạo điều kiện xây dựng hệ thống kè, đập để giữ nước và hệ thống mương máng dẫn nước về đồng ruộng; con em của bà con trong bản được cử tuyển đào tạo giáo viên để sau này về giảng dạy ngay trên quê hương mình và dự án mắc điện lưới đưa ánh sáng về bản sớm được hoàn thành...
