Tạo thói quen sử dụng nước sinh hoạt có trả tiền ở nông thôn

08:24, 24/03/2010

Để có được kết quả 84% dân số nông thôn trong tỉnh được sử dụng nước sạch phục vụ sinh hoạt, ngành Nông nghiệp và PTNT Thái Nguyên đã phải nỗ lực liên tục trong 18 năm qua. Nhưng thành công lớn hơn của ngành là đã từng bước tạo được thói quen cho người dân nông thôn trên địa bàn dùng nước sạch phục vụ sinh hoạt có trả tiền…

 

Hàng trăm công trình nước sinh hoạt được xây dựng tại các vùng trong tỉnh đã cơ bản giải quyết được nhu cầu về nước sạch phục vụ đời sống của người dân nông thôn trên địa bàn và Thái Nguyên được Trung ương đánh giá là một trong những địa phương thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn. Hiện trên địa bàn tỉnh đã có 9 nhà máy, công trình nước sinh hoạt lớn phục vụ nhu cầu về nước sinh hoạt cho khoảng 45 nghìn người (các công trình này do Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh trực tiếp quản lý) cùng hàng trăm công trình nước sinh hoạt có quy mô nhỏ được đầu tư xây dựng theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm ở khắp các địa phương trong tỉnh.

 

Mạng lưới các công trình nước sinh hoạt được xây dựng ở nhiều nơi, nhất là ở các địa bàn thiếu nước hoặc nước sinh hoạt bị ô nhiễm nên kết thúc năm 2009 đã có 84% dân số nông thôn trong tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Năm 2010 tỉnh có kế hoạch tăng thêm 6% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch trong sinh hoạt. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh đã phê duyệt đầu tư xây dựng thêm 7 công trình nước sinh hoạt ở nông thôn với tổng số vốn lên tới trên 70 tỷ đồng. Trong đó có các công trình nước sinh hoạt như: Tân Phú (Phổ Yên); Nga My (Phú Bình), Tân Dương (Định Hoá), Động Đạt (Phú Lương)… sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong quý II năm nay.

 

Nhưng điều mà đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnh vực này của tỉnh mong muốn nhất là từng bước tạo được thói quen dùng nước sạch sinh hoạt có trả tiền ở nông thôn và sau nhiều năm nỗ lực đến nay đã có trên 7.000 hộ dân nông thôn trong tỉnh ký hợp đồng mua nước sạch sinh hoạt (nhu cầu sử dụng khoảng 6m3 nước/tháng và mức chi phí từ 10 tới 25 nghìn đồng/hộ/tháng). Một số nhà máy nước như: Hóa Thượng (Đồng Hỷ), Thịnh Đức (T.P Thái Nguyên), Minh Đức (Phổ Yên) đã vận hành hết công suất do nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt của người dân tăng tới trên 10% mỗi năm. Ở các xã nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo (thuộc huyện Đại Từ), sau khi được tuyên truyền, người dân đã hạn chế sử dụng nước giếng khơi mà mua nước sạch sinh hoạt với giá từ 1.800 đến 3.800 đồng/m3.

 

Thói quen sử dụng nước sinh hoạt trả tiền của người dân nông thôn đã đem lại nhiều điều lợi: Người dân được sử dụng nguồn nước sạch thường xuyên; các công trình nước sinh hoạt có kinh phí để bảo dưỡng, sửa chữa; tạo thêm việc làm cho nhiều lao động ở nông thôn. Nhưng cái lợi lớn nhất chính là làm thay đổi thói quen xin cho, chỉ biết nhận của người dân nông thôn. Ông Đặng Huy Thành, Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh cho biết: Qua kinh nghiệm nhiều năm chúng tôi thấy các công trình nước sinh hoạt đầu tư dù lớn, hiện đại đến mấy mà không có cơ chế quản lý phù hợp thì sẽ rất khó duy trì hoạt động. Xác định được như vậy nên vài năm gần đây chúng tôi đã xin với tỉnh trực tiếp quản lý, khai thác 9 công trình nước sinh hoạt có quy mô lớn và các công trình này đều hoạt động hiệu quả…

 

Các công trình nước sinh hoạt ở nông thôn khi mới đi vào hoạt động đều gặp rất nhiều khó khăn, do người dân chưa có thói quen mua nước nên hoạt động kinh doanh thường bị lỗ hoặc công trình không sử dụng không hết công suất. Nhưng khi được tuyên truyền và người dân nông thôn thấy được lợi ích từ việc sử dụng nước sinh hoạt đảm bảo tiêu chuẩn thì nhu cầu về nước sạch sinh hoạt tăng nhanh. Ông La Hồng Chung, Trạm trưởng trạm dịch vụ nước (đơn vị đang được tỉnh giao quản lý 5 nhà máy nước thuộc Dự án của JICA và một số công trình khác) khẳng định: Việc kinh doanh nước sinh hoạt ở nông thôn sẽ không thực hiện được nếu không kiên trì tuyên truyền vì ngoài chuyện kinh tế khó khăn, nhận thức của người dân nông thôn còn hạn chế, chủ quan. Ví dụ như nhà máy nước Hóa Thượng, chúng tôi phải bù lỗ tới gần 3 năm mới cân đối được thu chi vì thời gian đầu người dân chưa dùng nước máy. Đến giờ thì tất cả các công trình do Trạm quản lý đã hoạt động ổn định, doanh thu đạt trên 2,3 tỷ đồng/năm nên giải quyết việc làm thường xuyên cho 80 lao động với mức thu nhập 1,5 triệu đồng/người/tháng và nộp ngân sách Nhà nước được trên 200 triệu đồng mỗi năm.

 

Thói quen sử dụng nước sinh hoạt trả tiền của người dân nông thôn trong tỉnh là điều kiện cần thiết, không thể thiếu để duy trì và tiến tới mở rộng quy mô các công trình nước sinh hoạt ở nông thôn khi Nhà nước đã kết thúc đầu tư cơ sở vật chất ban đầu.