Vua trồng rừng trên đất ATK

08:47, 13/04/2010

Con đường gập ghềnh bởi sỏi đá và những con suối cắt ngang dẫn chúng tôi đến nhà ông Hứa Đình Đại, xóm Nà Làng, xã Lam Vỹ (Định Hóa), người được bà con địa phương đặt cho cái tên “Vua trồng rừng”. Từ năm 2007 đến nay, gia đình ông Đại đã trồng mới được 37,3ha rừng, nâng tổng diện tích rừng đã khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới của gia đình lên 83,3 ha.

 

Đứng trước mầu xanh mơn mởn của những vạt rừng keo và mỡ từ 1 đến 3 tuổi của gia đình ông Đại, chúng tôi nhẩm tính giá trị của chúng trong một vài năm tới sẽ lên tới hàng tỷ đồng. Ông cho biết: Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, không có tư liệu sản xuất nên kinh tế gia đình ông trước đây chỉ dựa vào mấy sào đất lúa của bố mẹ để lại. Năm 1997, Nhà nước có chính sách giao đất, giao rừng để người dân khoanh nuôi, bảo vệ, trong khi các gia đình khác trong xóm không dám nhận rừng vì sợ phải nộp thuế và không quản lý được thì gia đình ông đã mạnh dạn nhận 70ha rừng để quản lý, bảo vệ.

 

Ông tâm sự: “khi nhận diện tích rừng lớn như vậy, gia đình tôi cũng lo lắm, nhưng tôi nghĩ là người miền núi thì phải sống dựa vào rừng và có trách nhiệm bảo vệ rừng”. Vì diện tích khoanh nuôi, bảo vệ lớn và xa nhà (nơi xa nhất cách nhà 20km) nên mỗi lần kiểm tra ông phải đi bộ mất cả ngày. Cùng với số tiền hỗ trợ quản lý rừng hạn chế là 50 nghìn đồng/ha/năm, để trang trải cuộc sống, ông đã xây dựng lán trại trong rừng để tiện quản lý, kết hợp với chăn thả từ 10 đến 15 con bò và thả cá trên diện tích ao rộng trên 4.000m2.

 

Năm 2007, thực hiện kế hoạch trồng thay thế những diện tích rừng tạp và cây bụi của của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện, ông là một trong những người đầu tiên của xã nhận trồng rừng dự án trên diện tích rừng mà mình đang quản lý, bảo vệ. Ông chia sẻ: Bác Hồ dạy “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, tôi thấy trồng rừng mang lại lợi ích lâu dài, nếu mình không hưởng thì con cháu sẽ hưởng. Từ suy nghĩ đó, ông dồn tâm sức vào việc trồng rừng. Lao động gia đình hạn chế (chỉ có 4 nhân khẩu), ông dùng toàn bộ số tiền của gia đình dành dụm được kết hợp với tiền hỗ trợ của dự án trồng rừng 661 và vay thêm 20 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để thuê nhân công cho việc phát thực bì, trồng cây và làm cỏ.

 

Cứ mỗi vụ trồng rừng đến, trên đồi gia đình ông lại vui như trẩy hội, luôn có từ 10 đến 15 lao động trong xóm giúp ông việc trồng rừng, thời điểm cao nhất lên tới 25 nhân công (giá thuê mỗi nhân công là 60 nghìn đồng/ ngày). Để đảm bảo cho cây non sinh trưởng, ông luôn tuân thủ những chỉ tiêu kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng đã được tấp huấn như: Trồng đúng cự ly và số lượng cây/ha, bón phân định kỳ, dọn phát cỏ 3 lần/năm với cây 1 năm tuổi...

 

Năm 2008, ông mua thêm 13 ha đất rừng để trồng mới. Tính đến nay, gia đình ông đã trồng tổng cộng được 37,3ha rừng, diện tích này hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt. Bên cạnh đó, để phát triển kinh tế gia đình, với phương châm lấy ngắn nuôi dài và tận dụng diện tích đất trống, ông đã trồng toàn bộ sắn cao sản vào diện tích rừng 1 và 2 năm tuổi. Năm 2008, gia đình ông đã thu được 70 tấn sắn củ, năm 2009 là 50 tấn, với giá bán trung bình khoảng 1,5 nghìn/kg. Trừ chi phí, gia đình ông thu lãi từ 40 đến 50 triệu đồng mỗi năm từ trồng sắn cao sản.

 

Khi được hỏi về những dự định sắp tới, bà Nguyễn Thị Huấn (vợ ông Đại) cho biết: “Gia đình chúng tôi sẽ tiếp tục trồng rừng mới trên diện tích mà Ban quản lý rừng phòng hộ huyện cho phép”. Khi chúng tôi ra về, gia đình ông vẫn đang tất bật chuẩn bị cây giống cho mùa vụ mới. Đây là một mô hình phát triển kinh tế bền vững dựa trên thế mạnh của địa phương và thu lợi lâu dài cần được khuyến khích và nhân rộng.