
Dù đã gắng kiềm nén, nhưng nước mắt cứ ầng ậc trào ra. Gần nửa thế kỷ nay, chưa một ngày bà có nụ cười trọn vẹn. Bà khóc cho chồng, cho con và cho chính cuộc đời mình phải hằng mang gánh nặng chiến tranh. Đó là bà Chu Thị Quế, ở xóm Giếng Mật, xã Tân Hoà (Phú Bình).
Bà từng có những tháng ngày hạnh phúc. Ngô Văn Khoát, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam huyện Phú Bình nói nhỏ với tôi… Vâng! Đó là chuyện của ngày cách đây mấy mươi năm về trước, chị Quế được tiếng là một thôn nữ đẹp người, đẹp nết ở xã Tân Thành. 20 tuổi, chị xây dựng hạnh phúc với anh Hoàng Văn Độ, trai làng Giếng Mật, xã Tân Hoà. Anh Độ là bộ đội, chị là nhân viên kế toán Hợp tác xã Hoà Đông.
Năm 1951, ông Độ nhập ngũ, khi ấy ông mới 16 tuổi. Trận mạc triển miên, đến năm 1957, ông về phép, gặp bà Quế nên duyên vợ chồng. Thời quân ngũ, hết chiến dịch Điện Biên Phủ lại chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông ít được về thăm nhà, bà Quế cũng có 7 lần sinh nở, được 4 gái, 3 trai.
Bà tắt vụt nụ cười. Mắt dâng đầy nước. Con tạo trêu ngươi, đến lần sinh thứ 5, năm 1969, bà sinh con trai, nhưng đứa trẻ chết ngay trên bàn sản. Vì sợ bà xúc động dễ gây sản giật, “người ta” không cho bà nhìn mặt con. Từ Bệnh viện Khu (nay là Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên), bà thờ thẫn trở về như một người đàn bà có lỗi với nhà chồng. Bà khóc nhiều lắm, rồi đau đớn cũng nguôi. Bà xoè 3 ngón tay, viết lên tấm bảng: Năm 1971, chồng về tranh thủ 3 ngày, tôi mang thai, sinh lần thứ sáu, được con bé Sâm… Bà bật khóc, chỉ tay vào buồng trong, nơi chị Sâm nằm ngọ nguậy suốt 45 năm nay.
Từ lúc sinh ra, bé Sâm đã như người không xương, thân thể mềm nhũn, khóc oặt oẹo. Bà linh cảm con mình là đứa trẻ không được bình thường về thể chất, nên gắng làm lụng, com cóp, dành tiền đưa con đi chạy chữa ở nhiều bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương. Ở đâu, bà cũng nhận được những cái lắc đầu: “Bệnh lạ, nền y học thế giới chưa tìm được thuốc chữa”. Trong đau khổ, vợ chồng động viên nhau: “Còn nước, còn tát”. Bệnh viện không chữa được, bà bế con tìm đến các lương y chữa thuốc nam. Nhưng tất cả những phương thuốc được các lương y quảng bá đều chẳng làm bệnh của Sâm thuyên giảm. Sâm nằm đó, không bao giờ ngồi dậy được, mà chỉ có từng cơn đau trong khắp cơ thể lớn dần qua tiếng kêu la.
Con khóc vì thể xác đau đớn, bà cũng khóc vì tinh thần đau khổ. Trong hoàn cảnh nghèo khó, năm 2005, bệnh ung thư xương của chồng đi gần hơn đến giai đoạn cuối. Trong nhà, con gái vật vã đau đớn, cất tiếng kêu ngờ nghệch. Chồng mím môi kìm nén từng cơn đau dội ra từ trong xương tuỷ. Bà cúi mặt, nén giấu nước mắt để không làm chồng, con đau. Và dù đau bệnh, ông Độ còn nhúc nhắc dậy đi lại, gượng xúc cơm ăn. Còn Sâm, người mềm như sợi bún, chân, tay co quắp chẳng làm được gì, hằng ngày chỉ ngóc đầu dậy cất tiếng ú ớ đau đớn. Từng bữa ăn, hớp nước đều do tay bà bón cho con. Cả chuyện “ngày phụ nữ” của Sâm cũng đều do tay bà thay giặt. Từ hơn mươi năm nay, bà ở hẳn nhà chăm chồng bệnh, con đau. Mọi việc đồng áng, việc trong nhà may có vợ chồng anh Hoàng Văn Phước, người con trai thứ 7 của bà lo liệu.
Có lẽ vì khóc nhiều nên thanh quản của bà sinh bệnh ung thư. Trong nhà có bao nhiều tiền đều lo thuốc, thang cho chồng và con gái, nên bà chẳng dám nói tình trạng sức khoẻ của mình với ai. Bà vuốt tay dọc khuôn mặt để lấy lại sự bình tĩnh rồi viết lên tấm bảng: Năm 2004, Sâm được Nhà nước cho hưởng chế độ nạn nhân chất độc da cam; năm 2005, chồng tôi được hưởng chế độ nạn nhân chất độc da cam; tháng 2-2007, chồng tôi qua đời; tháng 9-2007, tôi về Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) mổ thanh quản. Sau mổ, tôi trở thành người câm.
Mặt bà ướt nhoèn vì nước mắt. Mọi người có mặt trong nhà cũng không cầm được lòng. 79 tuổi đời, thì có gần 50 năm đau đớn vì bệnh tật của chồng, của con. Suốt cuộc đời bà đong đầy trong nước mắt vì hậu quả chiến tranh. Dù năm tháng đạn bom dội xuống mảnh đất Việt Nam thân yêu đã lùi về dĩ vãng, nhưng nỗi đau âm thầm ngấm vào máu thịt bao người lính, theo về những nẻo quê, “di căn” sang đời con, đời cháu bằng những hình hài dị dạng. Bà Quế chỉ là một trong hàng nghìn phụ nữ Thái Nguyên nói riêng, hàng triệu phụ nữ Việt Nam nói chung trở thành nạn nhân cuộc chiến của thời dĩ vãng, mà chẳng có thứ thuốc nào xoa dịu được nỗi đau, ngoài sự động viên, chia sẻ của tình người.
