Chè

Nguyễn Bình Phương 09:19, 26/05/2026

(Trích)

Đội Năm bắt chân chữ ngũ phe phẩy chiếc quạt lá cọ, mắt dõi về phía lối đi nhỏ dẫn khuất sau những vạt lim cổ thụ xanh đen ngút ngút im phắc. Tiếng quạ khàn khà đan lẫn tiếng yểng và tiếng bìm bịp trầm vang. Họ vẫn chưa xuất hiện. Hai vành tai Đội Năm nhúc nhích xoay trở đón tiếng lao xao của họ. Thế nào cũng là tiếng chói choét của cu Nhạnh vọng đến tai ông trước, sau đó, như ông hình dung, sẽ là tiếng hắng của cụ Nhĩ, đầy đờm dãi mà không bao giờ nhổ ra. Nhưng đáp lại hy vọng của Đội Năm, là tiếng hổ gầm, một tiếng dài vang, một tiếng nữa. Trời đất đột nhiên lặng phắc chờ đợi. Và tiếng gầm thứ ba dội lên nhuốm vẻ gắt gỏng. Vậy là khác với mọi khi, chiều nay con hổ không bình tĩnh. Đội Năm thán phục phong thái của con hổ đó, từ dáng đi, điệu ngồi cho tới cái ngáp đều hết sức ung dung. Ông đã nhiều lần quan sát con hổ săn mồi. Nó đi đến ung dung, ung dung quỳ phục xuống tiếp cận con mồi, cho tới lúc vươn lên và bổ nhào từ trên cao xuống theo đường vòng cung, tất cả đều từ tốn, oai vệ, chẳng một chút hấp tấp. Đội Năm dặn mọi người phải chừa con hổ tập tễnh ấy ra, tuyệt không ai được bẫy nó, ngay cả khi có bị nó tấn công thì cũng chỉ chống trả để thoát thân, không được làm hại lại. Đấy là uy linh của vùng này, Đội Năm bảo với dân Tân Cương như vậy.

Minh họa: Dương Văn Chung
Minh họa: Dương Văn Chung

Cuối cùng thì họ cũng về, mang theo những tiếng lao xao hớn hở. Trên chiếc võng nhẹ hều, nửa người của cụ Nhĩ lắc lư. Cu Nhạnh ton tón đi bên võng, ở khoảng giữa hai người khênh và đột nhiên cái bóng của nó trải dài hơn cả mấy người lớn trong đám. Cu Nhạnh chạy vượt lên đoàn người khi nhìn thấy Đội Năm. “Ngài đội có nghe thấy con hổ của ngài vừa gầm không”. Nó hỏi trong lúc vẫn chạy nhao tới chỗ Đội Năm. Những giọt mồ hôi của cu Nhạnh vo tròn lại nhấp nhính trên má mà không chịu rơi. Đội Năm nheo mắt gật đầu, chờ cho tới khi đoàn người đến gần mới thong thả chống gối đứng dậy. Cáng hạ xuống và cụ Nhĩ uể oải vươn người xốc lại tư thế, ra hiệu cho hai người khiêng xốc mình ra. Họ khiêng cụ Nhĩ định đặt cụ lên khúc gỗ cạnh ghế của Đội Năm, nhưng Đội Năm vội bước sang bên nhường ghế cho cụ. “Để cụ ngồi đây, cụ phải ngồi đây.” Cụ Nhĩ chẳng cần ý tứ gì, phẩy tay ra hiệu cho hai người xốc cụ đặt vào ghế của Đội Năm. Hai người họ nhìn nhau, đôi ria mép của Đội Năm đen nhánh hơi nhếch lên, còn chòm râu của cụ Nhĩ thì im phắc. Mấy người khiêng cáng ý tứ lảng xa một chút. Đội Năm không kìm được nữa, hỏi luôn, “Được không cụ?”, “Được”, Cụ Nhĩ đáp. Mắt Đội Năm vẫn ánh lên vẻ nghi ngờ khi thấy hai tay cụ Nhĩ trống không, buông thõng. “Đâu, họ cho nhiều không?” Đội Năm hỏi, bồn chồn đi quanh cụ Nhĩ săm soi tìm kiếm xem cụ có đeo thêm thứ gì không, ở cái cơ thế còm còm xương xẩu kia. Nhưng chẳng có gì. Cụ Nhĩ bảo, “Cụ Cử Đoàn cho nhiều lắm, rồi tôi sẽ đem hết ra để mọi người cùng lấy”. Phải vòng vo một lúc Đội Năm mới hiểu, bên Phú Thọ cho cách thức trồng. Phải thành thục cách thức trồng mới cho giống.

Ngày hôm sau, mọi người tụ lại ở bãi trống trước nhà Đội Năm, cỡ đến dăm chục hộ. Cụ Nhĩ chậm rãi nói từng cách thức để trồng, làm đất thế nào, hốc thế nào, khoảng cách thế nào, chăm sóc theo từng giai đoạn ra làm sao. Giảng giải một hồi, cả đám người thấy mệt nhoài, chả hiểu gì. Rồi Đội Năm chợt hiểu, dân ở đây không quen hình dung, họ cần cầm tay chỉ việc. Có điều nếu ông nói thẳng ra thì dễ bị cụ Nhĩ tự ái. May sao, một người đàn bà mạnh dạn bảo, “Thưa cụ, cụ nói thế này chúng tôi chả hình dung ra được. Bây giờ thì cụ cho hay xem, có cái cây ấy để trồng luôn không, thì chúng tôi trồng”. Cụ Nhĩ quay sang đốp luôn, “Cái chị nhà này, gì cũng phải học thuộc mới làm, phải thuộc trong đầu rồi mới làm ra tay được. hiểu chửa”. Người đàn bà sửng lên, định nói lại, nhưng Đội Năm đã giơ tay chặn ngang, “Thôi, hiểu rồi. Cụ Nhĩ nói là đúng quá rồi, không có gì sai cả. Tôi nghĩ, giờ mỗi người về tự nhớ lại các quy trình đi, còn tôi với cụ Nhĩ sẽ sang lại để xin họ cho cây giống về mình trồng luôn”. Cụ Nhĩ cau mày, không gió mà chòm râu vẫn rung rối lên: “Trồng bằng hạt, không phải bằng cây”. Đội Năm cười vang, xòa đi, “Đúng rồi, tôi quên, bằng hạt, hạt nảy thành cây. Thế mình càng khẩn trương càng tốt. Ngày kia, nhỉ, ngày kia tôi với cụ Nhĩ lại đi, thêm mấy người nữa đi cùng”. Cụ Nhĩ lầu bầu, “Chỉ cần ba người khiêng cáng cho tôi là được, còn thì cho vào tay nải, nặng nhọc gì đâu mấy cái hạt ấy”. Đội Năm biết thế là cụ Nhĩ đã xuôi lòng nên tiện thể nói luôn, “Giờ các bác về dọn đất đi, cứ dọn sạch, quy cách thì cụ Nhĩ nói rồi, hố cách bao nhiêu thì làm đúng theo lời cụ”. Mọi người giải tán.

Cả buổi trưa hôm ấy, vùng Tân Cương khói lửa ngùn ngụt vì đốt cỏ gianh và lau lác.

Đội Năm cùng đoàn người lên đường từ tờ mờ, họ đi đến lửng chiều thì tới đất Phú Thọ. Trên đường, Đội Năm chăm chú quan sát xung quanh, thi thoảng dừng lại ngắm nghía rồi buông ra lời nhận xét, “Đồi ở đây dáng không đẹp bằng vùng mình, vùng mình đồi không méo thế này. Mình còn có sông Công nó chảy qua, tôi nghĩ là hợp với cây chè”. Cụ Nhĩ nằm trong cáng, hất cái mảnh vải che nắng sang, thò cổ cò nói, “Xem xem cụ Nghè Sổ có đúng không”. Đội Năm nhếch mép, nhìn xa xa, “Đúng, tôi tin là đúng”.

Tới nhà cụ Cử Đoàn thì cụ lại đi sang xóm bên chơi. Người ở của cụ cử, kẻ chạy đi gọi cụ về, kẻ theo lời vợ cụ, chuẩn bị chỗ nghỉ cho đoàn ở gian nhà ngang. Tối hôm đó, cả đoàn lăn ra ngủ sớm, chỉ có Đội Năm với Cử Đoàn là thức khuya, trò chuyện rì rầm như suối. Đội Năm kể chuyện bên Pháp cho Cử Đoàn nghe, kể chuyện dân châu Phi ăn thịt người như thế nào, giỏi trèo cây hơn cả khỉ nhưng lại không biết bơi, thấy nước là cứ rúm tứ túc lại. Cử Đoàn nghe chăm chú, thi thoảng lại vỗ vào mép bàn đánh bốp ra chiều khoái chí. Đến chừng thấy Cử Đoàn thoải mái rồi, Đội Năm mới nghiêm giọng, đặt vấn đề, “Tôi lặn lội qua đây, trước là để thăm cụ, vì nghe danh cụ đã lâu, lại được cụ Nghè Sổ giới thiệu, nay gặp cụ, nói chuyện với cụ là vinh hạnh lắm lắm…”. Cử Đoàn vẫn tươi mặt, làm như không bận tâm tới vẻ nghiêm trang của Đội Năm, phẩy tay cắt ngang, “Biết ngài bôn ba khắp thế gian, tôi thật quý. Người mình, mấy ai đi nhiều đâu, chỉ loanh quanh sang Nhật Bổn với Trung Hoa là cùng. Ngài đi tới châu Phi thời là đến được tận cùng thế gian rồi. Tôi chỉ mong được như ngài thôi, nhìn thấy chỗ tận cùng của thế gian, rồi chết cũng thỏa kiếp này. Còn cái chuyện ngài định nói, không cần nói nữa. Mai tôi bảo chúng nó chuẩn bị hạt giống, người của ngài mang được bao nhiêu thời lấy bấy nhiêu, không hạn chế”.

Đội Năm bất giác vươn người sang, siết chặt tay Cử Đoàn. Hai người ngồi im lắng nghe tiếng chó sủa ran ran bên ngoài cùng với những cơn gió miết qua. Cử Đoàn chậm rãi bước vào gian buồng trong, khi quay ra thì cầm theo một vật gọn trong lòng tay. Cử Đoàn đặt cái vật ấy xuống mặt bàn gỗ lát vân nâu như mây chiều, đó là một cái hạt. Một cái hạt to cỡ ngón cái, màu nâu óng, tròn tròn, mẩy màng. Đội Năm không kìm nén được, bất giác đưa tay nhón hạt lên, cẩn trọng nhìn kỹ. Một cái hạt không khác mấy với hạt dẻ mà dạo lên Trùng Khánh, Đội Năm đã được nếm thử. Nhưng hình như nó nhỏ hơn, tròn hơn một chút. Hay nó to hơn? Đầu óc Đội Năm hơi lấn bấn rối loạn, sự ung dung của con hổ chẳng giúp gì được ông lúc này. Chính Đội Năm cũng thấy lạ vì mình. Bao nhiêu năm bôn ba bên ngoài, đã ngửi đến mức nghiện cái mùi thuốc súng gióp qua các trận chiến, vậy mà giờ lại lao xao vì một cái hạt nhỏ. Mày là gì? Mày chứa cái gì bên trong? Liệu mày có như lời quan tuần phủ, cụ Nghè Sổ nói, thực sự mang tới cơ hội đổi đời cho dân xứ Tân Cương hoang dã hiu hắt chúng ta. Ánh sáng của cây đèn măng xông chập chờn đưa qua đưa lại trên lớp vỏ trơn nhẵn bóng bẩy của cái hạt.

Lúc sau Cử Đoàn cất giọng chậm rãi, “Cái giống chè nó như giống đàn bà, đúng như đàn bà đấy ngài đội ạ. Không cần phải chăm sóc nó kỹ lưỡng quá, chăm sóc kỹ quá thời nó hư, nhưng nhất định phải dành tình cảm chân thành cho nó thời nó mới tận hiến cho mình”. “Tôi hiểu”. Đội Năm nghiêng đầu đáp. Cử Đoàn cũng chẳng mấy bận tâm lời đáp, nói tiếp, “Ngài cũng nhớ, đừng để họ biến trà thành thứ phi nhân nhé”.

Đội Năm ngẩn ra, ông không hình dung làm sao chè lại có thể khiến con người ta phi nhân được, nhất là khi dùng nó chỉ để uống. Cử Đoàn rung đùi, vuốt vuốt cái chòm râu lưa thưa hoen ố của mình, nhìn sâu vào hạt chè đang nằm chơ vơ đầy bí ẩn trên bàn, giữa mình với Đội Năm. “Ngài không quan tâm đấy thôi, chứ quanh cái cây chè này thiên hạ làm nhiều điều cũng rồ dại. Có kẻ bệnh hoạn tới mức dùng trinh nữ để ướp chè. Nó phi nhân ngài ạ”.

Đội Năm hắng giọng, cố ghìm hơi thở dồn, điều cần nghe thì Cử Đoàn chả đả động gì. Nếu Cử Đoàn im lặng, ông có nên hỏi thẳng không? Hỏi thẳng có bất nhã quá không? Nếu không hỏi, Cử Đoàn không biết để nói ra thì cái công mang cây chè về cũng chỉ như mang cây sim, cây mua về mà thôi. Cử Đoàn một lần nữa, như đọc được ý nghĩ của Đội Năm, rót thêm rượu vào cái chén mắt trâu, rồi chủ động đưa lên ngang mặt mời. Đội Năm cũng vội nhấc chén đưa ngang mặt và bọn họ cùng uống cạn. “Bí quyết thời phải chờ duyên đến mới tiết lộ được. Với Ngài tôi chả giấu. Ngài cứ yên tâm, lúc nào duyên đến tôi sẽ nói với ngài, chỉ mình ngài thôi”. Đội Năm thở phào, buột miệng, “Vâng, thưa cụ. Chỉ là do…”, “Ngài đội cứ ngủ ngon đêm nay đi”. Cử Đoàn cắt ngang lời Đội Năm.

Đêm hôm ấy, trong giấc ngủ muộn, Đội Năm mơ đến ba giấc mơ ngắn. Giấc mơ thứ ba Đội Năm thấy mình đang ngồi buồn bã não nề cạnh cây chè non nớt sắp chết thì bỗng dưng có một người trong suốt lướt tới cúi xuống chạm ngón tay út vào cái lá non rồi ào đi mất hút. Một cơn lạnh xộc vào tận buồng phổi Đội Năm khiến ông rùng mình nhìn sang và lại rùng mình lần nữa. Cây chè héo rũ giờ lá đã giãn thẳng, những chiếc lá màu xanh căng bóng hừng hực sức sống như người con gái dậy thì. Chẳng hiểu sao, dù đã cố gào lên để ngăn mình, nhưng hai bàn tay của Đội Năm vẫn cứ rờ rẫm lên cây chè và ông biết sự rờ rẫm ấy đầy nhục dục. Cây chè bật lên tiếng rên khiến Đội Năm giật thột và bừng tỉnh.

Chó vẫn sủa ran ran bên ngoài, có nghĩa là ai đó vẫn đang lần mò đi suốt trong đêm thẳm sâu của miền trung du này.

Sáng, khi Đội Năm bước ra hiên thì đã thấy Cử Đoàn đang ngồi với cụ Nhĩ, họ nói chuyện có vẻ hào hứng vì tay cụ Nhĩ huơ hết bên này sang bên kia còn Cử Đoàn thì cười suốt. Thấy Đội Năm, Cử Đoàn đứng dậy, vồn vã hỏi, “Chẳng hay tối qua ngài đội ngủ có yên không?” Đội Năm vặn mình, chậm rãi ngồi xuống cạnh cụ Nhĩ, gật đầu đáp xã giao, “Rất là yên, đất lành mà cụ Cử.” Mắt Cử Đoàn thoáng ánh lên một tia quái lạ rồi tắt ngay, “Bạch Hạc này, từ xưa truyền lại, là chốn của âm trận, vì thế đêm chính là ngày. Ngài đội ngủ yên thời là ngài đội thức với giao thần đấy ạ”. Câu nói của Cử Đoàn làm Đội Năm hơi chút sững lại.

Người nhà khênh nồi cháo ninh xương lên mời cả đoàn ăn. Sau đó họ từ biệt nhau ra về. Lúc tiễn đoàn ra cổng Cử Đoàn có níu Đội Năm lại, nói nhỏ, “Ngài nhớ nhé, không để cho chúng nó phi nhân trà nhé. Nếu không tính linh của trà nó đi mất, có tội với trời đất”. Đội Năm bảo, “Tôi đâu dám quên lời dặn của cụ Cử. May là gặp được người nhân ái như cụ hết lòng giúp, thật là ơn trời bể”. Cử Đoàn xua tay, “Ơn với huệ gì, tôi chỉ thuận theo lòng mình thôi mà. Bể trà mênh mông, thấm được chút nào phúc chút ấy”.

Đoàn của Đội Năm mang về hai bao tải hạt giống, cũng đặt lên cáng vì không thể vác. Thế là đoàn có hai chiếc cáng, một cho cụ Nhĩ, một cho hai bao tải hạt chè. Lúc khởi hành, ai ai cũng hào hứng, trò chuyện rào rào suốt cả quãng dài. Được non nửa đường thì trời đang nắng rờ rỡ thỉu dần, thỉu dần, rồi tái xám đi, nặng nề với một quầng mây dạt chéo từ phía đông nam lại. Đội Năm lo lắng chốc chốc lại ngó lên trời, giục mọi người rảo nhanh hơn. Nhưng rồi cũng chẳng kịp. Quầng mây kéo bầu trời võng trĩu xuống với những cơn gió ướt rượt mát lạnh. Cụ Nhĩ bảo “Ngài đội, kiếm cái gì mà che nó lại không thì công toi cả đấy”. Đội Năm cũng chẳng biết lấy gì che cho hai cái bao tải đang chao đảo trên cáng. Mảnh bố duy nhất thì dành đắp cho cụ Nhĩ. Mưa bắt đầu đổ xuống, một lượt rào qua, ngừng lại, rồi một lượt nữa, sau đó im lặng. Cụ Nhĩ hất cái tấm che khỏi mình, bảo cu Nhạnh, “Đắp cho hai cái bao kia giúp ông, mau lên”. Rồi thì mưa chỉ nhượng bộ đến khi thằng cu Nhạnh che xong hai cái bao tải, lập tức ào xuống sầm sập, càn lướt bất chấp. Cả đoàn vội vàng dạt vào dưới một bụi giang xum xòa và tất cả khom mình quây lấy che cho hai tải hạt giống cùng cụ Nhĩ. Mưa quất bời bời xuống lưng đoàn người như một ông chủ đang nổi đóa. Đội Năm mỗi lúc một lo lắng khi thấy mưa kéo dài, ông ngước mắt lên ước định xem trời còn bao nhiêu nước nữa. Trong cái nhòa nhạt, dường như nước của cả thế gian đang tụ về xoáy trên đầu Đội Năm và những người dân Tân Cương đi thỉnh hạt chè giống. Chẳng lẽ trời không muốn Tân Cương thay đổi, chẳng lẽ cây chè không dành cho Tân Cương. Chẳng lẽ Trần Hoài đúng, vùng đất hỗn cư này mãi mãi là chốn dành cho những thân phận đầu thừa đuôi thẹo của thế gian. Đó là câu than của Trần Hoài, nó được thốt ra trong trận tranh cãi kịch liệt giữa Đội Năm với Trần Hoài và nhóm nghĩa binh của Tán Thuật nhân dịp giỗ Tán Thuật. Tranh cãi chẳng đi tới đâu, cuối cùng thì chính cụ Nghè Sổ phải phân định. Trước khi phẩy tay cho kiệu rời đi, Nghè Sổ bảo, “Cùng người An Nam mình, đánh Pháp hay phục vụ cho Pháp thì cũng là do hoàn cảnh. Vì thế phải biết bảo nhau mà làm ăn, lựa nhau mà sống, người có sống thì nước mới còn”. Nghè Sổ đã nói thế cũng là nói cho cái thế của chính mình. Sau cuộc cãi vã ấy, nhóm của Trần Hoài đâm ra hợp và thân với Đội Năm hơn cả.

“Ngài ơi, tạnh rồi”.

Tiếng reo của cu Nhạnh dứt Đội Năm ra khỏi những miên man. Trời đã quang, nhưng xung quanh thì ướt nhẹp và bùn ngập tới tận mắt cá chân. Nước từ các rãnh trượt từ trên cao xuống, túa loạn xa trên mặt đất. Đội Năm hô mọi người tiếp tục lên đường, vì phía trước họ còn một con suối. Nếu không nhanh, nước đổ dồn về sẽ khó qua. Đoàn người lại xốc cáng lên, vừa đi vừa chạy gằn. Gần đến suối thì Đội Năm chững lại. Ông nghe tiếng rì rì rì rì đầy uy lực và nỗi lo của Đội Năm hiện ra. Con suối lúc đi còn sâm sấp, lội chỉ đến bắp chân, giờ lớn rộng ra, đỏ ngầu và vồng lên vì áp lực từ phía thượng nguồn dồn xuống. Cụ Nhĩ bảo, “Còn qua được, miễn là mau lên, chần chừ thì có khi phải ở lại đến hết đêm mất”.

Thế là Đội Năm đốc mọi người vượt suối, chính ông là người đầu tiên bước xuống và cảm thấy rất rõ sức cuốn của nước, nó như là bàn tay nắm lấy chực giật tung chân lên. Càng xa bờ suối càng sâu, qua gối, lên đến ngang bụng. Cáng phải nhấc cao lên nhưng hai bao tải hạt nặng cứ võng xuống chực nhúng nước. Thấy vậy, cụ Nhĩ nằng nặc đòi xuống cáng, bắt mọi người chuyển một bao sang cáng của cụ. Ra đến đoạn giữa, cụ Nhĩ sai thằng cu Nhạnh cùng một người nữa phải lòn vào dưới cáng, đội đầu lên đó để nước khỏi ngấm sang bao hạt. Bản thân cụ thì lập cập bíu vai Đội Năm cùng lội.

Qua được suối, mọi người lại chuyển cụ Nhĩ lên cáng đi tiếp. Nhưng từ đó bỗng dưng cụ Nhĩ trở người khật khừ rất nhanh. Cụ cố chịu, đến lúc không chịu được thì buột miệng kêu mệt. Đội Năm quay lại, đặt tay lên trán cụ Nhĩ và giật mình. Mặt cụ Nhĩ đỏ hực lên, những vệt mồ hôi sủi đặc trên khuôn mặt nhăn nheo. “Tôi mệt quá ngài đội”. Cụ Nhĩ thều thào, muốn lắc mình mà cũng không lắc được. Hai người khiêng vội đặt cáng xuống, rồi lấy quạt quạt cho cụ Nhĩ, mỗi lần quạt thì cụ lại rùng mình như bị quất bằng roi lửa, thế là phải ngừng lại. Đội Năm ái ngại hỏi, “Cụ nghe trong mình thế nào”? “Tôi mệt, tôi đi bây giờ đây”. Giọng cụ Nhĩ thều thào, méo mó. Thằng cu Nhạnh bảo “Cụ ơi, cụ đừng có gở mồm. Cụ mà chết là bố cháu giết chết cháu luôn đấy”. Cụ Nhĩ lờ dờ đáo mắt sang Đội Năm, miệng hé ra, “Tôi bảo này”. Đội Năm cúi xuống sát với cụ Nhĩ “Cụ dạy gì không ạ”? Cụ Nhĩ nói khó nhọc, “Cái nào quý cũng phải đánh đổi. Mang được cây chè về Tân Cương thế cũng là rẻ rồi”. Đội Năm ngẩn ra. Cụ Nhĩ lại nói, “Ngài đội nhớ bảo chúng nó chôn tôi ở chỗ đầu dốc ấy. Nhớ nhé, tôi độ cho”. 

Cu Nhạnh lẳng lặng rờ rẫm khắp người cụ Nhĩ, nắn nắn cái chân bên trái bị teo, rồi nói nhỏ, như nói với chính mình, “Ông ơi, đi chữa cái chân này cho lành xong thì ông lại về với cháu nhé”. Người khiêng cáng gạt cu Nhạnh sang, phủ tấm vải bố lên mặt cụ Nhĩ, rồi nhìn Đội Năm chờ đợi. Đội Năm moi chiếc đồng hồ quả quýt trong túi ra, giơ lên xem, bảo, “Giờ là chín rưỡi, tranh chủ đi luôn, không ông cụ cứng lại thì khó”.

Cả đoàn lại lốc tốc xốc mọi thứ lên. Con đường nhỏ vờn theo đường cong của những quả đồi và bụi vẩn lên, thứ bụi vàng đỏ của miền trung du. Vài ba vạt cọ, vài ba khóm giang cong cong khật khưỡng, vài ba khoảng trống rồi sau đó là lớp lớp những vạt rừng nguyên sinh xanh đen. Họ đi, không ai nói với ai câu nào, ngay cả cu Nhạnh cũng không ho he gì. Đội Năm nhìn đồng hồ lần nữa, rồi chỉ cu Nhạnh. “Mày chạy về trước, báo cho mọi người ra đón. Nhanh lên đấy”. Cu Nhạnh vọt đi. Nhìn theo cu Nhạnh, đột nhiên Đội Năm gọi với theo, “Coi chừng hổ”. Nhưng cu Nhạnh thì đã khuất sau khúc quanh.

Mọi người tụ tập ở bãi đất trước đình. Khi đoàn của Đội Năm, với hai chiếc cáng, một mang xác cụ Nhĩ, một mang hai bao tải hạt chè tiến vào sân đình thì không ai bảo ai, tất cả đều nhất loạt quỳ sụp xuống trong bầu không khí lặng phắc.

Bất thần một tiếng gầm vang lên từ rừng lim cổ thụ xanh đen phía đầu dốc.

Lúc khâm liệm cụ Nhĩ, đích thân Đội Năm ấn ba hạt chè vào lòng tay co quắp của cụ và rì rầm nói gì đó mà chẳng ai nghe rõ.

Đám ma diễn ra gọn nhẹ, không cờ phướn, không kèn trống, không than khóc. Chỉ là dòng người lầm lũi khênh quan tài đi, chậm, thật chậm ra chỗ người quá cố đã dặn Đội Năm chôn mình ở đó. Mộ cụ Nhĩ được đắp điếm xong, Đội Năm là người ra về cuối cùng. Đi một đoạn ngắn Đội Năm ngoái lại và hộc lên một tiếng. Trong ráng chiều đỏ ối, mộ cụ Nhĩ giống như một hạt chè khổng lồ vừa gieo từ đỉnh trời xuống.

Đó là ngày hạt chè giống đầu tiên đến với đất Tân Cương.