Qua cuộc khảo sát di tích thuộc địa bàn huyện Phú Bình và Phổ Yên gần đây, Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên đã phát hiện 3 di tích lịch sử văn hoá thờ danh nhân Phạm Cự Lạng- người được phong làm Thái úy, thời vua Lê Hoàn. Đó là các di tích: Đình Đoài, thuộc xóm Ngói, Hà Châu (Phú Bình); đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, Nam Tiến và đình Thượng Giã, Thuận Thành (Phổ Yên).
Thực tế cho thấy, trải qua 2 cuộc chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hầu hết các di tích này không còn nguyên vẹn, thậm chí di tích không còn nhưng thần tích, sắc phong còn lưu giữ được. Đây là những di tích lịch sử văn hoá đã được nhân dân lập nên từ xưa để thờ cúng và truyền lại cho thế hệ sau. Trong số 3 di tích nói trên, dựa vào nguồn lưu trữ thần tích và sắc phong ở tại di tích và Thư viện Trung ương đều còn gìn giữ được: Như đình Đoài còn tới 17 sắc phong, 1 thần tích, đình Hoàng Đàm 6 sắc phong, 1 thần tích.
Đối chiếu với nội dung bản thần tích của đình Đoài với cuốn Thư mục thần sắc, thần tích do Viện Thông tin khoa học xã hội Việt Nam- Hà Nội (1995) đang lưu giữ có bản sao các sắc phong và thần tích viết về Phạm Cự Lạng và sách Đại Việt sử ký toàn thư đều cho biết về thân thế và sự nghiệp của Phạm Cự Lạng (thần tích gọi là Phạm Cự Lượng) như sau: Phạm Cự Lạng sinh ngày 20 tháng 11 năm 944, người làng Trà Hương, Nam Sách, Hải Dương. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống võ nghệ. Ông nội là Phạm Chiêm, giữ chức Đông Giáp tướng quân đời Ngô Quyền. Cha là Phạm Mạn, làm tham chính đô đốc đời Ngô Nam Tấn vương (Xương Văn), mẹ là Trần Thị Hồng. Ông bà có 8 người con, 5 trai, 3 gái đều hiển đạt.
Ngay từ nhỏ Phạm Cự Lạng đã tỏ rõ tư chất thông minh, có chí lớn, văn võ đều thấu hiểu. Ông thường cùng anh cả là Phạm Hạp đem tiền của chiêu dụ mọi người, mua ngựa luyện quân. Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn 12 sứ quân, Phạm Cự Lạng cùng Phạm Hạp đem hơn 2000 người, ngựa từ quê đến Hoa Lư phò Đinh Bộ Lĩnh. Phạm Cự Lạng được phong chức Phòng Ngự sứ tiên phong Tướng quân ra giữ cửa biên Đại Ác.
Năm Mậu Thìn (968), dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, Phạm Cự Lạng được phong Tâm phúc tướng quân coi việc Thị vệ Quan thân cận của nhà vua.
Năm 979, vua Đinh và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, Đinh Toàn mới 6 tuổi được lập lên ngôi vua. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc và anh Phạm Cự Lạng và Phạm Hạp thấy uy quyền của Phó vương Lê Hoàn quá lớn bèn khởi binh chống Lê Hoàn nhưng đã bị Lê Hoàn dẹp tan. Phạm Hạp bị Lê Hoàn xử tử. Tuy vậy, Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng làm tướng dưới quyền.
Năm sau, nhà Tống nhân lúc nước Đại Việt rối ren, liền nảy ý đồ đánh chiếm, sai quan trấn thủ Ung Châu Hầu Nhân Bảo cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn, Triệu Phụng Huân đem quân theo hai đường thuỷ bộ vào xâm lược nước ta. Tình thế Đại Cồ Việt vô cùng nguy cấp. Tháng 7 năm ấy, Thái hậu Dương Vân Nga phong Phạm Cự Lạng làm Đại tướng tiên phong đem quân đi chống giặc. Trước lúc tiến quân, Phạm Cự Lạng hội quân sỹ ở cửa Đào Lâm (chưa rõ nay thuộc địa phận nào), nói rằng: “Bây giờ quân giặc sắp vào cõi mà chúa thượng hãy còn nhỏ tuổi, lấy ai mà thưởng phạt cho chúng ta… chẳng bằng nay ta tôn Thập đạo tướng quân lên ngôi thiên tử đã, rồi sau sẽ xuất quân”. Quân sỹ nghe nói đều hô vang vạn tuế.
Sau chiến thắng chống quân Tống, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế, Phạm Cự Lạng được phong làm Thái uý. Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), mọi mũi tiến quân của quân Tống đều bị quân Đại Cồ Việt phá, tướng giặc Hầu Nhân Bảo chết trận, quá nửa quân Tống bị tiêu diệt, buộc vua Tống xuống chiếu lui quân.
Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng đuợc tin trao trọng trách đi khai sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hoà (tức từ Đan Nê, Yên Định đến Đồng Hoà, Tĩnh Gia, Thanh Hoá ngày nay). Trên đắp thành đường lớn, dưới khai thành sông lớn đẻ lưu thông thuỷ bộ. Cũng trong năm này, Phạm Cự Lạng còn chỉ huy đào cảng Đa Cái ở Hoan Châu (tức Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay).
Ngày 12 tháng 9 năm Giáp Thân (984), Phạm Cự Lạng mắc bệnh sốt rét, mất tại Đồng Cổ, nơi ông đang làm viẹc. Nhà vua thương tiếc sai người đem di hài Phạm Cự Lạng về kinh đô Thăng Long, an táng tại phía nam Bồ Sơn. Hưởng thọ 41 tuổi.
Ghi nhớ công ơn của Phạm Cự Lạng ở Đồng Cổ và Đa Cái hiện còn đền thờ ông. Tại Hà Nội, đời vua Lý Thái Tông (1028-1054) giao cho Bộ Lễ viết sắc phong: “Thần Phạm Cự Lạng làm Hoành Thánh Đại Vương” chuyên xét việc hình ngục, thờ tại đền Ngự Sử (nay là đền Lương Sử thuộc phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám-Hà Nội). Tại Hưng Lộc (Nghĩa Hưng, Nam Định) cũng có đền thờ Phạm Cự Lạng ghi lại di tích tương tự như đền thờ Lương Sử.
Qua nghiên cứu các sắc phong và thần tích (2) còn lưu giữ được ở đình Đoài, xã Hà Châu (Phú Bình) đình Hoàng Đàm (Phổ Yên) và đình Thượng Giã thì trong các bản thần tích đều gọi tên ông là Phạm Cự Lượng, tỏ ý tôn trọng tên tục của ông và ghi rõ tên hiệu của ông là Hồng Thánh Khuông Quốc Trung Vũ Tá Trị Đại Vương, thời Lý Thái Tông
Ngoài các di tích thuộc địa bàn các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội và Nam Định (Hải Dương quê ông có đền thờ ông không?) có tỉnh Thái Nguyên còn 3 di tích thờ ông. Sắc phong và bài vị của đình Đoài được vua Tự Đức thứ 33 (1881) ban sắc phong cho Phạm Cự Lạng những chữ như sau: “Cương kiên trung kiêu địch quả trang vũ quang ý Khuôn Quốc trung đẳng thần”…
Như vậy, qua việc phát hiện các tài liệu Hán nôm tại các di tích nói trên cho biết thêm về 3 nơi thờ Phạm Cự Lạng, một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời xưa của tỉnh Hải Dương là điều đáng quý bởi như sử sách đã ghi chép ông là một người có công với dân, với nước cho nên nhân dân tỉnh Thái Nguyên cũng thờ ông.

