Năm 1973, chiến tranh chống Mỹ sắp bước vào hồi kết nhưng chiến trường miền Nam vẫn vô cùng khốc liệt, bố tôi khi đó là lính thủy của Hải đoàn cảm tử, trên con tàu Không số rong ruổi, lênh đênh khắp biển khơi từ Bắc vô Nam và ngược lại...
Trong ký ức tuổi thơ, tôi nhớ như in có những đêm khuya, bên ánh đèn dầu tù mù, trong không gian âm u mênh mang của núi rừng ATK (Định Hóa, Thái Nguyên) mẹ tôi đọc cho bà nội tôi nghe những lá thư của bố gửi về từ chiến trường, câu kết thư nào cũng thấy mẹ đọc: “Mẹ yên tâm, con đang ở nơi an toàn, mẹ đừng lo gì cho con, con kính chúc mẹ mạnh khỏe, ngày chiến thắng con về”.
Bà nội thường băn khoăn: Đi chiến đấu nơi nguy hiểm mà bố bọn trẻ lại nói “ở nơi an toàn” là ở nơi nào? Mãi sau này, tôi mới biết: ngày đó thông tin liên lạc rất khó khăn, rất lâu mới có thể nhận được thông tin từ bố, nhưng để bà nội yên tâm, mẹ “bịa” ra cách thỉnh thoảng đọc thư của bố gửi về như vậy, còn mẹ thì âm thầm chờ đợi bố trong khắc khoải, lo âu… Còn tôi, ngày bố đi chiến đấu, tôi còn nhỏ nên không nhớ rõ mặt bố.
![]() |
| Minh họa: Thanh Hạnh |
Năm 1974, do công việc của mẹ, gia đình tôi chuyển từ ATK về thành phố Thái Nguyên và ở tạm căn nhà lợp lá cọ bên ven quả đồi thuộc xã Thịnh Đán. Mẹ đi làm cả ngày, bà nội lui cui cuốc đất trồng kê, sắn, khoai, ngô để thêm lương thực cho những ngày tháng “gạo châu củi quế”.
Tôi khi đó, chưa đủ khôn để có thể thấu hiểu những vất vả, cơ cực của người lớn. Chỉ nhớ nhất trong tôi là chuyện mỗi khi theo mẹ đi chợ Đán, mẹ cho tôi ngồi vào cái thúng ở một đầu quang gánh còn đầu kia đè thứ gì đó nặng nặng để đừng bị “tùng bê” và gánh tôi ra chợ.
Tôi ngồi lọt thỏm, tay bám chặt thành thúng và nghếch đôi mắt đen tròn, khoái chí nhìn thiên hạ, hai bím tóc hoe hoe vàng phất phơ theo nhịp chân mẹ bước.
Năm tháng dần trôi, tôi bắt đầu đủ tuổi đi học lớp “Vỡ lòng”. Ngày đầu tiên đi học, mẹ đưa tôi đến lớp, mẹ dắt tôi đi trên con đường rải nhiều đá cuội trắng. Lớp học nho nhỏ, vách trát bằng rơm và bùn, mái lợp lá cọ, lớp nằm ở ven ngọn đồi thoai thoải, trồng nhiều cây bạch đàn, phía trước có con đường chạy qua.
Cô giáo tươi cười đón tôi vào lớp, tôi rời tay mẹ, bước vào lớp học lạ lẫm… chỉ muốn khóc theo mẹ đi về. Tôi thấy lòng mênh mang buồn… nhìn hút theo bóng mẹ… Rồi vài tuần sau, tôi cũng quen với việc tự mình lũn cũn đi học mà không cần mẹ đưa, đón nữa.
Một hôm, cô giáo viết lên bảng dòng chữ: Thứ tư, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cô nói chậm rãi: các con mở sách chúng ta học bài mới… Buổi học qua đi, chúng tôi đứa nào về nhà đứa ấy và ngày đó cũng qua đi như mọi ngày… Nhưng đến hôm sau, ngay phút đầu tiên bước vào lớp, cô giáo hân hoan nói với chúng tôi: Ngày hôm qua, đất nước chúng ta đã hòa bình, non sông nối liền một dải rồi các con ơi! Tôi nhìn đôi mắt cô đỏ hoe vì xúc động…
Rồi cô kể cho chúng tôi những câu chuyện về chiến trường miền Nam, rằng anh trai của cô đã ngã xuống ở Quảng Trị, mãi mãi cô không được gặp lại người anh thân yêu của mình. Chúng tôi lắng nghe nhưng ngơ ngác chẳng hiểu gì, và khi ấy, lũ trẻ ngây thơ chúng tôi làm sao hình dung được miền Nam, Sài Gòn ở nơi đâu?!
Những ngày tiếp đó, tôi được sống trong không khí tràn ngập niềm vui đất nước hòa bình, chiếc Radio nhỏ mẹ bán lợn, tiết kiệm tiền mua cho cả nhà để nghe tiết mục “Kể chuyện cảnh giác” và “Sân khấu truyền thanh” luôn vang lên lời ca trong nhạc phẩm “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên.
Bài hát vui tươi, hào sảng đầy niềm tự hào chiến thắng, tôi lẩm nhẩm hát theo và thuộc lúc nào không biết. Mãi những năm tháng sau này, tôi luôn nghĩ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những ngày lịch sử thiêng liêng của tháng 4 năm đó, bao nhiêu người đã ngã xuống trong cuộc chiến… bao nhiêu sự kiện xáo trộn đất nước bởi chiến tranh, bố tôi cũng theo đoàn binh đi chiến đấu, sự hy sinh cận kề… vậy mà tôi cùng lũ trẻ ngây thơ ở một góc trời miền Bắc chẳng biết gì, vẫn bình yên bi bô đọc những con chữ theo nhịp tay cô gõ thước lên bảng đen, hò hét trêu chọc nhau khản cả giọng...
Rồi một buổi trưa Chủ nhật, tôi đang chơi nhảy lò cò ở ngoài sân, nhìn ra cổng thấy một người đàn ông lạ, gương mặt hiền lành, mặc bộ quần áo hải quân rất đẹp đi vào. Tôi ngờ ngợ líu lưỡi hỏi: chú… chú là ai ạ? Bà nội tôi ở trong nhà chạy ra, rồi sau phút ngỡ ngàng, bà ôm chầm lấy vai “chú” hải quân và mừng mừng tủi tủi, bà khóc vì vui, vì bố tôi nguyên vẹn trở về sau bao ngày tháng bà thấp thỏm ngóng trông bố trong lo âu đến tột độ.
Lúc đó, tôi cũng kịp nhận ra bố tôi. Tôi xấu hổ, e thẹn nhưng cũng để bố ôm gọn trong lòng và vuốt mái tóc hoe vàng của mình. Mẹ cũng kịp về đón bố, cả nhà vui mừng khôn xiết… Phút giây đoàn tụ gia đình sau những ngày tháng chia xa của thời bom rơi, đạn lạc bùi ngùi xúc động không nói nên lời… Tôi không bao giờ quên phút giây hạnh phúc vô biên đó của gia đình.
Quà bố mang về cho tôi là một con búp bê nhựa có đôi mắt tròn như hai hòn bi ve, mái tóc tơ màu vàng và mặc cái váy hồng xinh xắn. Cũng như nhiều đứa trẻ sinh ra vào thời gian cuối chiến tranh gian khổ và lớn lên ở thời hậu chiến thiếu thốn đủ đường, đồ chơi là món xa xỉ và chỉ có trong mơ, cho nên tôi nâng niu, quý mến bạn búp bê của mình vô cùng… món quà quý giá của bố theo tôi đi suốt tuổi thơ và mãi sau này khi tôi đã là thiếu nữ.
Trong ba lô của bố, ngoài món quà cho tôi, còn có những lá thư viết tay và một số kỷ vật của đồng đội. Bố kể với bà và mẹ về chủ nhân của mỗi lá thư và kỷ vật với giọng trầm buồn. In sâu mãi trong ký ức thơ ngây, mong manh, dễ vỡ của tôi là hình ảnh bố, mẹ và bà nghẹn ngào trước những lá thư và kỷ vật đó.
Qua câu chuyện của bố, tôi hiểu, có một số những người đồng đội của bố đã không may mắn được trở về nhà đoàn tụ như bố. Các chú, các bác đã an giấc nghỉ ngàn năm giữa đại dương bao la sóng vỗ… Những ngày sau đó, tôi thấy bố đi tìm từng nhà các chú, bác đã hy sinh và trao lại thư cùng kỷ vật cho gia đình họ.
Non sông thống nhất, những ngày bố về phép là những ngày vui khôn tả của tôi, tôi hãnh diện, tự hào ngồi sau chiếc xe đạp cà tàng để bố đưa đi chơi, thăm họ hàng, bà con lối xóm… Đi đến đâu, mọi người cũng nhìn theo hai bố con vẫy chào, trìu mến.
Bố thủ thỉ kể cho tôi nghe những câu chuyện ông cùng đồng đội cảm tử trên biển, nguy hiểm ác liệt như thế nào… dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, bảo toàn vũ khí, đạn dược ra sao để kịp vận chuyển, phục vụ cho chiến trường miền Nam…
Đó là những câu chuyện hút hồn tôi, như suối nguồn mát lành thấm sâu tâm thức tôi, giúp tôi suy ngẫm và thức nhận, trân quý nhiều giá trị về cuộc sống hòa bình đã mang lại hạnh phúc cho gia đình tôi và đất nước Việt Nam yêu dấu của tôi.








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin