Người trở về từ... bia mộ ở Trường Sơn

Bích Phượng 18:37, 30/04/2026

Ông là Đào Duy Đức, sinh năm 1955, quê gốc Thái Bình. Nếu chỉ nhìn hiện tại, ít ai nghĩ người đàn ông đang tỉ mẩn chăm chút tổ ong, luống cây thuốc nam đã đi qua chiến tranh, có tên trên giấy báo tử, từng nằm bất động gần một năm trời giữa ranh giới mong manh của sống và chết.

Ông Đào Duy Đức là người nặng lòng với bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.
Ông Đào Duy Đức là người nặng lòng với bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.

Lá đơn viết bằng máu và chiếc ba lô có lọ penicillin ghi tên

Sáng ở một góc nhỏ phường Phan Đình Phùng (Thái Nguyên), tiếng ong vo ve nghe như một thứ âm thanh rất khẽ, đủ để nhận ra có người đang đứng lặng dưới tán cây. Nắng đầu ngày chưa gắt, vương trên mái tóc đã bạc, gương mặt đầy đặn, phúc hậu. Có điều gì đó ở dáng đứng ấy khiến người ta dễ tin rằng cuộc đời đã đi qua nhiều dâu bể mà vẫn giữ được một sự bình thản hiếm gặp.

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi về ông Đức là giọng sang sảng, có độ ngân nga lạ. Người Tày nghe ông nói thường bảo giọng ấy "có hồn", nghe như một người trong bản. Có lẽ vì thế mà câu chuyện ông kể cứ nối dài, vòng qua ký ức, qua những năm tháng chiến trường, rồi lại trở về những câu hát, những câu thơ ông còn giữ.

Năm 1964, gia đình ông rời quê ở Thái Bình lên vùng Hà Hiệu, Chợ Rã để khai hoang. Đó là quãng thời gian những gia đình trẻ đi tìm đất sống, mang theo cả quê cũ trong ký ức. Xã Hà hiệu sau này sáp nhập với xã Bành Trạch và  Phúc Lộc thành xã Phúc Lộc, tỉnh Thái Nguyên, nhưng trong lời kể của ông, nó vẫn là Hà Hiệu của những ngày đầu gian khó.

Năm 1971, khi vừa tròn 17 tuổi, chàng thanh niên trẻ Đào Duy Đức làm đơn xin nhập ngũ. Để thể hiện quyết tâm, lá đơn được viết bằng máu. Ông kể lại chuyện ấy nhẹ bẫng, như nhắc về ký ức tuổi trẻ, giản đơn như một chi tiết đã thuộc về quá khứ. Ông cười, ánh mắt đầy hoài niệm: Hồi ấy ai cũng nghĩ đơn giản. Đi là đi thôi. Đi để đánh giặc.

Sau khi khám sức khỏe và huấn luyện, với sự nhanh nhẹn, dẻo dai, sức khỏe tốt, ông được chọn làm lính đặc công. Ông cười hiền: Thật ra lúc ấy cả đội đều biết, lính đặc công là xác định sẽ hy sinh. Nhưng ai cũng tự hào. Trong ba lô mỗi người đều có một lọ penicillin có ghi tên, để sau này người nhà còn đến nhận.

Những trận đánh đầu tiên của ông là ở chiến trường Quảng Trị. Chiến tranh vốn khốc liệt và mất mát, nỗi đau đằng đẵng theo ông biết bao năm là anh, em đồng đội, là những buổi trước ngày xuất kích, có người đứng lên hát, có người đọc thơ. Cũng có khoảnh khắc lặng im vì không biết ngày mai ai còn, ai mất.

Cuối năm 1972 bom B52 đánh đúng đơn vị của ông tại mặt trận phía Tây Quảng Trị, ông bị vùi trong đất đá, chân gãy đôi, toàn cơ thể bất động hoàn toàn. Thế là ước mơ ra trận tiếp tục đi đánh giặc không còn nữa. Ở Đoàn 559 Binh đoàn Trường Sơn chữa trị ba tháng thì được chuyển ra Bắc, về điều trị tại Bệnh viện 91 Quân đội.

Tháng 3-1973 về Đội 1 Đoàn 231 ở Lập Thạch, Vĩnh Phú, ông nằm bất động gần một năm do bó bột từ cổ đến ngón chân. Vết thương nặng đến mức ông cũng không biết mình được đưa ra khỏi chiến trận như thế nào. Chiếc ba lô vẫn ở lại nơi chiến trường. Khi vào điều trị, ông vào đội 1 - đội nặng nhất, 2/4 với thương tật 61%.

Ông Đức cười: Gần một năm bó bột từ cổ xuống tận ngón chân. Cứ nằm bất động như thế, có người bón từng thìa cơm, thìa nước. Bất lực lắm, con rệp cắn, người đau nhức, những ngày dài nối nhau như không có điểm dừng. Có lúc cũng suy nghĩ tiêu cực lắm, nghĩ cả đời sẽ phải như thế này.

Tôi rụt rè hỏi: Liệu có lúc nào ông hối hận không?

Người đàn ông có nụ cười hiền lắc đầu: Lúc ấy chỉ buồn thôi. Buồn vì không được trở lại chiến đấu. Ở nơi điều trị, có những người đến tận đầu giường hát cho thương binh nghe. Nghe những bài hát như “Trước ngày hội bắn” là chỉ ước được cầm súng, sát cánh sinh tử một lần nữa cùng đồng đội ở chiến trường.

Trong thời gian ông nằm liệt, ở quê nhà, gia đình ông đã nhận giấy báo tử. Có lẽ chiếc ba lô có lọ thủy tinh lưu tên ông đã nằm lại ở chiến trường giữa muôn vàn máu thịt của những người đã nằm xuống. Người lính đặc công, như ông nói, khi ra trận đều xác định trước điều đó. Nhưng với gia đình, tờ giấy báo tử là một sự thật không thể khác.

Tháng 8 năm 1974, khi vết thương lành và tập trị liệu, sức khỏe ổn định, ông trở về quê nhà. Cả làng ai cũng sững sờ, ngạc nhiên, người thân không tin, hàng xóm không tin. Một người đã hy sinh bỗng nhiên bước vào nhà, đứng đó, bằng xương bằng thịt. Rồi nước mắt, nụ cười và những cái nắm tay mừng tủi, người con yêu quý đã trở về.

Sau này, ông chuyển sang làm việc trong ngành Thuế tại Thái Nguyên. Một công việc mới bắt đầu. Ông tiếp tục đi học: Đại học Kinh tế Quốc dân, rồi các chương trình về tài chính kế toán, luật... Con đường học tập của ông đầy nỗ lực, như thể để bù đắp cho những năm tháng đã dành cho chiến đấu.

Năm 1990, ông làm Giám đốc Công ty Chợ thành phố Thái Nguyên. Công việc quản lý, điều hành, rồi sau đó là những vị trí khác, kéo dài cho đến khi ông nghỉ hưu năm 2015 khi đang là Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ nhà đất và đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật tỉnh.

Cuộc đời công tác của ông đủ đầy những dấu mốc. Nhưng khi nhắc lại, ông không đi theo trình tự. Ông kể theo những gì còn đọng lại trong ký ức, có khi là một chuyến đi, một lần gặp dân, một câu chuyện nhỏ...

Có một chi tiết khiến chúng tôi không khỏi bất ngờ, khi ông cười vui bảo: Sau này liên lạc được với các đồng đội cũ, có người gặp tôi cũng sửng sốt lắm, kêu trời lên bảo sao mày lại ở đây, tao còn được thắp hương cho mày ở Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn cơ mà. Thế là tôi và gia đình vào tận ấy để thăm... mộ của chính mình. Tên ông, trong một thời điểm nào đó, đã được khắc trên bia. Khi hỏi về cảm giác đứng trước ngôi mộ ấy, ông thì thầm: Mình còn sống, là may rồi.

Giữ lại tiếng nói đang dần mai một

Câu chuyện về người lính đặc công Đào Duy Đức, nếu dừng lại ở đó, có lẽ đã đủ cho một đời người. Nhưng chúng tôi lại được nghe ông nhắc nhiều nhất những trăn trở về văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng cao, đặc biệt là văn hóa Tày.

Ông trầm ngâm: Tôi là người Kinh nhưng may mắn được lớn lên giữa bản làng người Tày. Tôi thương nhớ tiếng Then, tiếng Lượn, và cả cách người Tày nói chuyện, hát, kể. Ông lớn lên giữa bản làng người Tày thuộc xã Hà Hiệu. Buổi tối, tiếng Then, tiếng Lượn vang lên từ nhà này sang nhà khác, xua đi như mỏi mệt, gian khó, thanh âm đặc biệt ấy theo ông vào giấc ngủ, cùng ông lớn lên.

Ông Đức cần mẫn nuôi ong lấy mật.
Ông Đức cần mẫn nuôi ong lấy mật.

Ông Đức bồi hồi: Ngày ấy còn là trẻ con, nghe cứ nghe thôi, có biết là lại yêu quý thế đâu. Sau này đi qua chiến tranh, qua những tháng năm xa xứ, những câu hát ấy lại trở về, rõ ràng hơn cả.

Đến những năm 2001-2003, khi giữ cương vị Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Bể, cái duyên ấy trở nên rõ ràng hơn. Công việc đưa ông đến gần người dân. Những buổi tuyên truyền chính sách, nghị quyết, ông dịch sang tiếng Tày, giải thích lại cho bà con hiểu rõ hơn. Ông cười nhắc lại: Nói bằng tiếng của họ, người ta mới nghe, mới tin.

Ông kể, có lần xuống bản tuyên truyền chính sách, ban đầu bà con ngồi nghe mà lặng im, ánh mắt còn dè dặt. Ông dừng lại, chuyển sang nói bằng tiếng Tày, chậm rãi giải thích từng ý một. Một cụ già ngồi ở góc nhà bỗng gật đầu, rồi cất tiếng đáp lại. Từ đó, câu chuyện trở nên gần hơn, người hỏi, người trả lời, không khí trong nhà ấm lên lúc nào không rõ. Với suy nghĩ đó, ông học thêm tiếng Dao, tiếng Mông, để khi đến với từng bản, từng người, khoảng cách được rút ngắn lại.

Những năm 2008-2011, khi làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn (trước khi sáp nhập), ông cùng với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh phối hợp khôi phục lại các làn điệu văn hóa cổ của người Tày. Có những làn điệu tưởng như đã mất. Có những câu hát chỉ còn trong ký ức của vài người già. Ông đi, nghe, ghi chép lại. Những chuyến đi không phải lúc nào cũng thuận lợi, nhưng ông vẫn đi. Với ông, có lẽ là một cách trả lại cho ký ức của mình.

Bây giờ, khi đã nghỉ hưu, cuộc sống của ông trở về nhịp chậm. Ông trồng cây thuốc nam, nuôi ong, mỗi ngày đi ra đi vào với khu vườn nhỏ. Những công việc ấy không đòi hỏi nhiều nhưng cần sự tỉ mỉ, giống như cách ông vẫn làm mọi thứ trước đây.

Có lúc ngồi nói chuyện, ông chuyển sang đọc thơ. Những câu thơ ông viết bằng tiếng Tày, dù ông là người Kinh:

Bươn lảp đăp sliểu

Phjắc kheo kin bấư lẹo

Bươn chiêng hắp phai lỷ

Bươn nhỉ hắp phai nà

Dịch:

Tháng Chạp thiếu

Rau xanh ăn không hết

Tháng Giêng đắp phai lỷ (phai giăng bắt cá suối)

Tháng hai đắp phai ruộng

Ông còn sưu tầm tục ngữ, ca dao Tày cổ. Những câu nói ngắn mà chứa cả một cách nhìn đời:

Cằm phuối nẳm cẩu tiểm slíp, cẳm nòn bấu cảm fựn đang (Lời nói định chín đếm mười, tối ngủ chẳng dám nhúc nhích giở mình)

"Ngôn ngữ của người Tày quý lắm. Nhưng người giữ thì ngày càng ít. Nhất là tiếng Tày cổ, những câu Then cũ", ông trầm tư bày tỏ. Nỗi trăn trở ấy, nó nằm trong cách ông vẫn tiếp tục ghi chép, tiếp tục nhớ, tiếp tục kể về những phong tục tập quán và văn hóa Tày.

Có người đi qua chiến tranh, mang theo những vết thương. Có người trở về, tiếp tục một đời sống khác. Với cựu chiến binh Đào Duy Đức, những gì còn lại không riêng ký ức chiến trường, đó còn là câu hát, tiếng nói dân tộc đang dần mai một.

Một đời người, đi từ một làng quê ở Thái Bình, qua những năm tháng ở Hà Hiệu, vào chiến trường Quảng Trị, rồi trở về với Thái Nguyên, mang theo nhiều lớp ký ức. Những lớp ký ức ấy không nằm yên, chúng hiện ra trong cách ông nói, trong những câu thơ, trong cả sự trăn trở về một thứ tiếng đang dần ít người còn nhớ.

Khi ra về, chúng tôi ngoái lại khu vườn nhỏ phía sau nhà ông. Những giàn ong vẫn bay chậm, những luống cây thuốc xanh rì trong nắng chiều. Ánh sáng đổ xuống, một dáng người đứng giữa khoảng sân quen thuộc. Ông vẫn thế, bộ quần áo chàm giản dị, giọng nói sang sảng mà ấm. Một người đã đi qua chiến tranh, từng có tên trên một tấm bia ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, rồi trở về, sống tiếp một cuộc đời khác.

Những chuyện ông kể nghe như đã xa lắm. Chỉ có những điều ông nhắc đến sau đó là vẫn còn ở đây, nhưng đang dần bị mai một. Ông không nói gì lớn, thỉnh thoảng chỉ nhắc lại vài câu then, vài tiếng nói cũ như một thói quen hình thành từ lâu. Nghe ông nói, chúng tôi không khỏi xót xa, rồi sẽ có lúc những điều ấy vắng đi thật, và khi nhận ra, có khi đã muộn…